VnExpress, Hoàng Ly Phỏng vấn Huy Nam

VietnamNet- Quân sư thời đổi mới

“Quân sư” thời kỳ đổi mới (VietNamNet) – 00:02′ 09/02/2005 (GMT+7)

(VietNamNet) – Quân sư thời nào cũng có, nhưng thời nay đó là những con người đặc dụng đối với các nhà làm chính sách, nhờ có họ mà quá trình đổi mới của Việt Nam nhanh chóng thẳng tiến.

Việt Nam có được những thay đổi như ngày nay là nhờ nỗ lực của Chính phủ. Tuy nhiên, Chính phủ khó có thể thành công nếu không có các cơ quan tham mưu. Có một lực lượng  góp phần vào những thay đổi này không thể không nhắc đến chính là các chuyên gia kinh tế. Họ được gọi là quân sư của thời kỳ đổi mới bởi lẽ những điều họ tham mưu đều hướng đến mục tiêu đổi mới, xóa bỏ những rào cản, đồng thời tác động vào giới làm luật để khơi dòng chảy mới cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia.

Ông Huy Nam (phải) bên ngoài một hội nghị ở Úc

Chân dung các quân sư

Áp lực hội nhập luôn buộc Việt Nam phải liên tục cải cách và đổi mới, cũng chính những áp lực này mà các nhà lãnh đạo phải hình thành những “bộ sậu” hoặc các chuyên gia để ứng phó kịp thời các tình huống. Từ cấp Chính phủ, Bộ ngành đến địa phương, Sở ngành đều có “bộ sậu” của riêng mình.

Đối với Chính phủ, các “bộ sậu” chính là các Bộ và các cơ quan ngang Bộ có thẩm quyền quản lý nhà nước. Những “bộ sậu” thường tham vấn cho Chính phủ các chính sách, chủ trương thay đổi theo từng thời kỳ và giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Ví dụ, để đưa ra sách lược tham gia vào WTO (Tổ chức Thương mại thế giới), Chính phủ cần tham vấn của các Bộ để có các quyết sách trong đàm phán và thương lượng với từng nước thành viên hoặc nhóm nước thành viên. Đối với mục tiêu này, các quân sư của Chính phủ thường là những Bộ hoặc cơ quan ngang Bộ như Bộ Kế hoạch Đầu tư, Thương mại, Tài chính, Ngân hàng, Nông nghiệp…

Bà Phạm Chi Lan và các chuyên “Quân sư” Nguyễn Đình Cung gia trong Tổ thực thi Luật Doanh nghiệp.
“Quân sư” Nguyễn Đình Cung

Đó là những quân sư nhà nước. Bên cạnh các chính phủ còn có các quân sư chuyên gia, là những nhà khoa học, nghiên cứu, kinh tế, chuyên môn… không phải là các quan chức tại vị. Lực lượng này được xem là đối trọng với quân sư nhà nước. Nếu quân sư nhà nước tham vấn cho chính phủ thường lấy quyền lợi của cơ quan quản lý nhà nước và cả bộ mình làm trọng tâm thì các quân sư chuyên gia lấy lợi ích của cộng đồng, dân chúng hoặc DN làm nền tảng. Chính mục tiêu đối lập này mà các tham vấn cho chính phủ luôn phản ảnh nhiều gốc độ ảnh hưởng kể cả ngược chiều. Các quân sư chuyên gia hình thành các tổ để tham vấn từng sự vụ cụ thể cho chính phủ. Lấy một nhóm quân sư chuyên gia làm ví dụ, đó là tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp. Tổ công tác được thành lập trong khi thực thi Luật Doanh nghiệp, được xem là “tâm huyết” của chính phủ nhằm thúc đẩy kinh tế. Nhiệm vụ của tổ công tác này là khơi dòng cho Luật Doanh nghiệp đi vào cuộc sống và “phá bỏ” các ràn cản mà các cơ quan quản lý nhà nước cố tình hoặc vô ý dựng lên để làm khó DN.

Một bộ phận bên cạnh Chính phủ có vai trò như quân sư làm “mới” DN là Ban đổi mới và phát triển DN. Cũng là cơ quan quản lý nhà nước nhưng trọng tâm nhiệm vụ của cơ quan này là làm cho DN, đặc biệt là DN nhà nước, mạnh hơn, xóa bỏ cơ chế cũ vốn  nặng nề, làm cản trở sự phát triển của khối DN chủ đạo này

Lợi ích của DN, cộng đồng:

Chuyên gia đổi mới là những người vì lợi ích của DN, cộng đồng và người dân. Họ là những tên tuổi như Đào Duy Quát, Nguyễn Đình Cung, Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, Huy Nam… là một số chuyên gia không phải là quan chức nhà nước. Tiếng nói của họ là tiếng nói của những người mà họ đại diện.

Cuộc đấu tranh vì sự đổi mới, cải cách hành chính và cải thiện môi trường luật pháp rất vất vả vì đối tượng phải “lật đổ” là những quan điểm cũ kỹ, bảo thủ và độc đoán của  cơ chế quan liêu.

Ông Nguyễn Đình Cung, Thư ký Tổ Công tác thi hành Luật Doanh nghiệp, kể lại chuyện Tổ đã bị phản ứng thế nào từ các cơ quan nhà nước khi đề nghị bãi bỏ giấy phép con trong kinh doanh. Đợt 1, Tổ đề nghị bãi bỏ 150 giấy phép con, đã diễn ra khá suôn sẻ bởi công việc này được chuẩn bị khá kỹ, hơn nữa bối cảnh cải cách đang cao trào và đặc biệt là những người liên quan chưa biết mình mất gì.  Khi điều này đi vào thực tiễn, số người xin giấy phép tự nhiên giảm đáng kể, khiến những người liên quan “giựt mình” vì nhận thấy mình mất đi “quyền năng”. Họ phản ứng dữ dội trong các đợt đề nghị tiếp theo và làm mọi chuyện cố giữ lại quyền lực. Họ thậm chí đe dọa cả tính mạng của những “người hùng” đổi mới, khiến họ một phen sợ hãi.

Các chuyên gia đổi mới, phần lớn là những người đã từng làm việc trong các cơ quan hoặc công ty nhà nước vì vậy họ hiểu rõ những khúc mắc của DN, những chểnh mảng của cơ quan nhà nước. Chính họ tạo ra kênh tác động nhanh chóng và hiệu quả làm thay đổi hoặc chỉnh sửa cơ chế bảo thủ. Lại chuyện kể về việc thi hành Luật Doanh nghiệp với qui định công dân Việt Nam đủ 18 tuổi có quyền thành lập DN. Ông Nguyễn Đình Cung nói rằng qui định tưởng chừng như đơn giản vì ai cũng có thể đáp ứng khi muốn mở DN, ấy vậy mà nó “hành” DN suốt một khoảng thời gian dài. DN xin xỏ, lạy lục rất nhiều cơ quan công quyền khi xin giấy chứng nhận sức khỏe, xác nhận vốn, lý lịch, ý kiến đồng ý của cơ quan quản lý… tính ra có đến 10 giấy phép con như thế. Nếu không có các chuyên gia đổi mới đề nghị Chính phủ bãi bỏ giấy phép xin – cho này, chắc có lẽ đến bây giờ DN vẫn còn khốn khổ…

Xuất phát từ mong muốn tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và bình đẵng cho DN, các chuyên gia đổi mới không ngại khó. Ông Huy Nam, một quân sư ở TP.HCM, nói rằng ông đã từng làm việc trong DN nhà nước và ông hiểu rõ một DN phải đương đầu như thế nào đối với cơ chế cũ. “Tất cả những gì chúng tôi làm là vì sự phát triển của nền kinh tế quốc gia và lợi ích của cộng đồng DN”, ông Nam phát biểu. Không chỉ tham gia tham mưu các chính sách cho Chính phủ, các chuyên gia đổi mới còn hỗ trợ tư vấn cho các DN. Là chuyên gia trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, ông Huy Nam đã hỗ trợ DN thực hiện cải cách trong quản lý tài chính, đồng vốn và cả quản trị DN. Nhiều DN có thể kể tên như Savico, Tổng Công ty Bến Thành, Saigon Postel, Sacom, Savimex… và cả những nhà đầu tư nước ngoài muốn tìm hiểu môi trường đầu tư Việt Nam.

Minh Quang

Nxb Thanh Niên – Huy Nam Nhà khoa học

HUY NAM trong dự án Sách NHỮNG NHÀ KHOA HỌC VIỆT NAM TIÊU BIỂU – VIETNAMESE TYPICAL SCIENTISTS, Hà Nội, 2022

Chỉ với vài trang sách có lẽ sẽ không thể phác họa chân dung một con người hay ghi nhận đầy đủ quá trình lao động sáng tạo của một nhân cách. Những trang sách ở đây chỉ góp phần chuyển tải những cống hiến hữu ích cho ngành, cho nghề, cho cộng đồng và xã hội mà con người ấy đã làm được. Nhà khoa học, nhà nghiên cứu đáng quý mà chúng tôi muốn nhắc đến là Chuyên gia Kinh tế Tài chánh Chứng khoán Huy Nam.

Ông là một Chuyên gia Độc lập, có bề dày nghiên cứu ứng dụng chuyên sâu, là Thành viên Hội đồng Chỉ số đầu tiên của TTCK Việt Nam, Giảng viên Học viện PACE, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)… Có thể xem ông như một nhân cách tiêu biểu cho phẩm chất Việt qua sự cần cù, trí tuệ và lạc quan. Câu chuyện về ông là câu chuyện về một con người luôn nỗ lực vươn lên dù ở hoàn cảnh nào, khó khăn nào. Sự tự tin với quyết tâm hiển đạt nhờ sự soi đường của trí tuệ đã cho ông kinh nghiệm dạn dày để gặt hái thành công trước những biến động trong đời và ngoài xã hội…

Những năm tháng trưởng thành và khát vọng vươn lên

Nhà khoa học Huy Nam sinh tại Quảng Nam. Cũng giống như nhiều trẻ em sinh ra trong thời chiến, tuổi thơ ông là những tháng ngày cơ cực, lớn lên trong hoàn cảnh thiếu thốn, đói nghèo, cho dù gia đình ông có xuất phát không phải khó khăn. Ba ông từng là dân Tây học, kết duyên cũng mẹ ông là một thôn nữ quay tơ. Thời chiến tranh, ba ông từng làm việc cho Tây (chủ là người Pháp) và giữ chức Sếp Cai mỏ vàng tại một tỉnh miền Trung (mỏ vàng Bồng Miêu). Nhờ vậy, gia đình ông thuộc nề nếp khá giả và được nể trọng. Nhưng rồi, ba ông lại bỏ việc ngang và tham gia kháng Tây sớm, để lại mẹ ông và năm anh em còn nhỏ dại với cái ‘nhà rường’ đắt giá (loại nhà bằng gỗ quý chỉ nhà giàu mới có). Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, cái nhà rường ấy cũng tan tành theo đạn pháo Tây. May mắn, năm anh em ông vẫn được sống trong vòng tay yêu thương, che chở của người mẹ. Dù điều kiện gian khổ nhưng mẹ ông vẫn tần tảo ngày ngày để nuôi nấng anh em ông khôn lớn.

Quê nhà tại Quảng Nam, Cái nôi của tuổi thơ

Khi chiến tranh bùng nổ tại quê nhà vào đầu những năm 1960 là lúc biến cố xót xa ập đến, gia đình ông bắt đầu ly tán. Xa người mẹ, ông và các anh chị em ông mỗi người một nơi, phải tự lo cuộc sống cho mình. Có lẽ những ai đã trải qua tình cảnh gia đình ly tán mới cảm nhận được hết sự bất hạnh và nỗi đau ruột thịt chia lìa. Ký ức thương đau khó quên nhất đến với ông là vào năm 1970, khi người anh kế của ông vĩnh viễn ra đi không ai bên cạnh từ một viên “đạn lạc” chiến tranh tại một nơi gần Hội An. Lúc này chỉ có mẹ ông và người chị lớn lo việc chôn cất anh tại quê nhà. Anh ấy rất gần gũi và có nhiều kỷ niệm với ông lúc nhỏ, nên sự mất mát đã để lại trong ông niềm tiếc thương không dứt.
Từ khi xa mẹ, ông bắt đầu tự lập thân tại Sài Gòn. Để duy trì cuộc sống lúc đó, bản thân ông phải bươn chải bằng đủ việc đủ “nghề”. Từ việc đi bán báo, phụ vặn nắp cù là Mac Phsu (Mac Phsu là hãng cù là nổi tiếng tại Sài Gòn trước 1975), dạy kèm chỗ này để có cơm, chỗ kia để ở nhờ. Không ít lúc tủi buồn nếm trải cơm chan nước mắt. Nhưng bù lại, ông được nhiều người cảm thương, tổ chức xã hội giúp đỡ duy trì việc học. Để được miễn giảm học phí, nhiều năm ở trung học ông thường phải nhập học trễ cả tháng, chờ còn chỗ trống để được nhận và luôn phải ngồi cuối lớp cho đến hết năm Đệ nhị (lớp 11 nay).
Những gian khổ rồi cũng dần qua đi. Nhờ ham học và học giỏi, ông đã vượt qua được thử thách ở cả hai cửa ải Tú tài 1 và 2. Đây là hai cửa ải vô cùng khó khăn đối với bất cứ ai muốn bước chân vào đại học tại Miền Nam thời ấy. Tỷ lệ trượt thì nhiều vô cùng, được ví là ‘rụng như sung’. Qua được Tú 1 lại nơm nớp lo luyện Tú tài 2 do khó hơn. Năm ông thi Tú tài 2 là năm có tỷ lệ đỗ thấp nhất, cả nước chỉ đỗ vỏn vẹn có 15%. Qua được cửa ải Tú tài 2 thời ấy thật sự là niềm kiêu hãnh, là bước đầu đặt một chân vào sự nghiệp. Là người có hoài bảo, ông luôn nuôi ước vọng được vươn xa và thâm nhập sâu vào kho tàng tri tuệ cao. Nếu không có lỗi ‘chiến tranh’ làm lỡ thủ tục, thì cơ hội du học đã mở ra cho ông vào ĐH Bang Pennsylvania qua một sự bảo trợ từ Mỹ.

NKH. Huy Nam trong chuyến làm việc cùng Công ty Nienstedt (Đức) tại Bỉ, 2017

Tuy nhiên, dù sao thì sau đó ông cũng đã tích được một nền học quan trọng với học trình tiên tiến của Mỹ, do các giáo sư tốt nghiệp ở Mỹ và giáo sư Mỹ giảng dạy tại Trường Chánh Trị Kinh Doanh /School of Government and Business/ Đại học Đà Lạt. Nội dung và phương pháp học ở đây cho đến nay vẫn còn giá trị phổ biến trong giảng dạy, như ‘panel discussion’, ‘group presentation assignment’, ‘case study’, ‘institute study’, v.v… Đây là nơi đầu tiên dạy môn ‘marketing’ và chuyển thuật ngữ này ra tiếng Việt là ‘tiếp thị’, đồng thời sử dụng thuật ngữ ‘management’ theo cách Mỹ (thay cho ‘administration’ theo cách xưa của Pháp) để diễn đạt hoạt động quản trị điều hành với kỹ năng hiện đại trong doanh nghiệp.

NKH. Huy Nam giao lưu tại Hà Nội – Trực tiếp trên VTC, 2007

Tuy vậy, cái nền học Mỹ ấy lại gần như ‘vô dụng’, nếu không muốn nói đã làm khó ông trong một thời gian khá dài sau năm 1975. Ở ‘đoạn 2’ cuộc đời khó khăn này, ông như rơi vào đường cùng: xin việc khó, kiếm sống khó, cảm giác vô dụng xuất hiện. Để giảm bế tắc, để thích nghi và tồn tại, ông làm đủ thứ ‘nghề’, bưng bê, ép plastic, sơn sửa nhà, chụp hình dạo, lắm lúc thâu đêm kiếm sống. Xoay xở riết rồi cũng quen và chịu được. Sau vài năm đi ‘học nghề’ ông kiếm được một việc làm ‘không thể thấp hơn’ tại một nhà máy trước kia là của Nhật, nơi ông từng nuôi mộng sẽ kiếm một chân ‘giám đốc’ lúc về đây thực tập thời còn là sinh viên.

Do lỡ ‘nghĩ lớn’ với ít nhiều hoài bão, tuy phải làm việc trong điều kiện khó có cửa ngoi lên như vậy, ông vẫn luôn nuôi hy vọng. Năm 1987, một số chuyển động đã cho ông cảm nhận về cơ hội khi Việt Nam có Luật Đầu tư Nước ngoài. Thế là ông quyết định rời nơi đã hơn mười năm ‘cống hiến’ để đổi đời. Tuy nhiên, đất dụng võ chỉ thực sự mở ra với ông từ sau những năm 1990. Để không lỡ cơ hội, ông đã tập trung tự ‘sắm’ lại mình, làm mới bản thân từ kiến thức, kỹ năng, tập quán thực hành theo ước lệ thị trường. Để chuẩn bị ‘xuống núi’, ông học thuộc Luật Đầu tư bằng tiếng Anh và tìm hiểu các định chế liên quan khác. Với sự hưng phấn và lòng say mê ông đã lao vào nghiên cứu và làm việc ngày đêm.

Các nghiên cứu của ông bắt đầu từ đó. Ban đầu là để phục vụ cho công việc với các đòi hỏi phức tạp khác nhau của từng đối tác nước ngoài. Vào thời gian làm giám đốc Saigon Burotel và điều phối LD Larkhal Twin Tower (tên ban đầu của Times Square Saigon ngày nay), quá trình tìm sự đồng thuận cho các bên đối tác qua các nghiên cứu theo yêu cầu: về kịch bản dòng tiền (cashflow scenarios), về định hướng phát triển dài hạn thông qua ước lệ IPO (initial public offering) đã giúp ông tích luỹ các cách làm bài bản.

Về sau, việc nghiên cứu chủ yếu là từ đặt hàng trong nước của các tổ chức, doanh nghiệp, báo chí kinh tế, để phục vụ yêu cầu hội nhập, chuẩn bị cho sự ra đời và tham gia thị trường tài chánh chứng khoán. Đây là giai đoạn còn trống các nền tảng chuyên ngành chuyên nghiệp chuyên sâu, về các nghiệp vụ đặc thù, các sản phẩm tài chánh đa cấp độ, chẳng hạn như chứng khoán ‘lớp giữa’ (mezzanine), công cụ phòng vệ và đầu cơ (dạng phái sinh, derivatives). Chính đây lại là cơ hội thử thách cho việc kiến giải, truyền thụ kiến thức hay truyền tải các trang viết của ông.

Cho dù đã có nền học cũ, đã vận dụng nhiều cách để trang bị và ‘updated’ kiến thức, đã bỏ ra thời gian dài nghiên cứu thành công ba học trình “Representative”, “Principal” và “Options/ Futures” (Series #7, Series #24 và Series #3, TTCK Mỹ), nền tảng kiến thức thực hành của ông phần nhiều là kết quả tích góp qua thực tế, thu lượm từ các chuyến đi làm việc tại Mỹ, Úc, Đức, Nhật, Đài Loan. Đó còn là dụng tâm lùng sục cóp nhặt qua thăm viếng và trao đổi với nhiều người nhiều giới tại nhiều nước khác nhau. Đặc biệt hơn là các chuyến đi làm việc ở Úc, Đức, Mỹ, khi có điều kiện là ông học họ, ghi nhận cả tập quán làm việc và sinh hoạt kinh tế ở họ. Trong thời gian gần 4 năm cộng tác với một công ty Đức, không ít lần ông đã tranh thủ đi ‘bụi đời’ dọc châu Âu, kể cả Đông Âu, cùng ăn cùng chơi với họ để biết họ có gì hay, có gì khác mình. Bài “Nước Đức như và không như tôi nghĩ” là một ghi nhận sinh động qua các chuyến đi làm việc và có dịp đến nhà ‘sống’ với họ.

Ông lập gia đình năm 1980 với một ‘couventine’ của trường Couvent Des Oiseaux, một trường Pháp tại Sài Gòn trước 1975. Ông kể: “Chúng tôi có 2 đứa con đều tốt nghiệp tại Úc, một là Tiến sỹ về “Modeling và Data Science” và một là Master về “Applied Finance”. Sự thành đạt của hai đứa con giúp tôi mãn nguyện giấc mơ du học hụt của mình”. Sau không ít thăng trầm của cuộc đời, ông luôn tự nhủ sẽ luôn cố gắng bù đắp để vợ con được hạnh phúc, gia đình vui tươi. Mong ước này có lẽ ông đã có được.

Kỷ niệm đáng nhớ trong cuộc đời.

Là một chuyên gia nghiên cứu kinh tế ứng dụng và đi cùng doanh nghiệp trước giai đoạn chuyển mình, ông luôn chăm chút các sản phẩm nghiên cứu và kết quả tư vấn của mình sao cho chuẩn chất và hiệu quả. Đầu năm 1999, khi cuốn “Thị trường Chứng khoán, những tiếp cận cần thiết để tham gia” ra đời, một tác phẩm có mục đích trang bị kiến thức nền về thị trường chứng khoán, đã được chào đón không ngờ. Trong dịp ra mắt sách tại IndexX House Sài Gòn, nơi ông làm cố vấn học thuật, chị Giám đốc Nxb khi lên phát biểu đã cho biết “trước nay chưa có cuốn nào ‘hot’ như cuốn này, chỉ sau 6 tháng đã được tái bản”.

NKH. Huy Nam làm việc tại Canberra Úc 1995

Do thiên về kinh tế ứng dụng, kết quả nghiên cứu của ông đã được triển khai thành công tại nhiều tổ chức, nhất là doanh nghiệp, với nhiều ghi nhận đáng nhớ…

Năm 2008 là năm doanh nghiệp cực kỳ khó khăn về vốn, rất nhiều công ty lâm vào tình thế bế tắc do ảnh hưởng từ đợt suy thoái kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, vào giai đoạn túng quẩn này, có 2 doanh nghiệp do ông tư vấn tái cấu trúc đã ‘thắng’ lớn. Một nhận được 70 triệu USD vốn góp từ đối tác gốc Anh, và một nhận 30 triệu USD của 2 đối tác từ Mỹ và Malaysia. Trong buổi tiệc ra mắt đối tác Anh góp 70 triệu USD, một thành viên HĐQT (chị VDH, là người nhà cận kề vị chủ sáng lập) đã đến mời nước ông và nói “công anh”. Ông đáp vội với chút ái ngại “không chị, công là của anh D” – Anh TBD là chủ sáng lập Công ty T, là “anh nhà” của chị.

Tương tự là với công ty được góp 30 triệu USD. Sau lễ ký hơp đồng, vị chủ tịch (anh NXQ, người nắm hơn nửa vốn công ty) đã quá vui và cảm kích nắm chặt tay ông rối rít cảm ơn và hết lời đề cao ông hiệu quả. Ông đã nhẹ nhàng đáp lễ “chỉ là phước chủ may thầy thôi anh”. Công ty này đã “giam lỏng” ông gần 9 năm, với vai trò “Cố vấn cấp cao của Tập đoàn” cho đến khi họ thành “ông lớn” có mã NLG niêm yết tại HOSE. Đây là hai thành tựu tiêu biểu trong khá nhiều kết quả tư vấn lớn nhỏ khác của ông.

NKH. Huy Nam làm việc với Đối tác tại Berlin, Đức

Ông cũng từng giúp một công ty nhỏ trong tình trạng gần như đã “chết lâm sàng”. Công ty này bị hụt hơi sau khi xây xong một xưởng sản xuất bề thế và vướng vào công nợ chồng chất không trả nổi. Không có đường ra, họ đã đến nhờ ông giúp. Sau khi tìm hiểu, nghiên cứu cân nhắc các phương án hồi sinh và thấy “cứu” được, ông đã giúp họ khoẻ lại.

Nhiều công ty có quy mô khá nhỏ từ lúc ông tham gia, năm-mười năm sau đã lớn lên nhiều ngàn tỷ. Ngoài một cái tên ông có công đầu sáng lập nổi tiếng trong ngành ‘dairy’ (sẽ đề cập ở phần sau), một tên tuổi lớn khác có vị chủ sáng lập (vừa nói ở đoạn trên) đã thành tỷ phú đô-la thứ tư của Việt Nam. Và, trong hơn 10 công ty có dấu ấn ông hiện hữu trên TTCK, 2 công ty REE và SAM niêm yết đầu tiên trên HOSE, 3 công ty NLG, TNA và PNT có mã niêm yết do ông đặt.

Với báo chí, ông cũng có nhiều kỷ niệm khó quên. Việc tờ Thanh Niên chạy tít lớn đăng trọn bài phân tích “Sốt chứng khoán, mừng hay lo” của ông trên trang đầu số đặc biệt 30-4-2006, được cho là ‘chưa từng thấy’, là một bất ngờ lớn đối với ông. Nhiều nhà báo đã ghi nhận đóng góp của ông với các bài viết về Huy Nam vào các dịp lễ tết là các món quà động viên ông. Bài “Quân sư thời đổi mới” của Minh Quang trên VietnamNet (Xuân 2005) viết về ông và các ông Nguyễn Đình Cung, Vũ Quốc Tuấn, chị Phạm Chi Lan, ghi nhận các đóng góp tích cực trước những cản ngại đổi mới thời đó, đã như phần thưởng tinh thần dành cho ông và các Anh/Chị đương thời. Tương tự là các bài viết riêng về Huy Nam của Mai Phương Nguyễn trên Nguyệt san Nghề Báo (Xuân 2003), Hoàng Ly trên VnExpress (Xuân 2011). Và mới nhất là email thăm ông nhân ngày Báo chí 2021 của một nhà báo đã gắn với ông suốt 21 năm liền: “Em biết, các bài anh viết cho báo đều là những bài tốt nhất, nhẹ nhàng mà sâu sắc và chuẩn mực. Đó có thể là trăn trở cả năm trời để chia sẻ trên vài trang viết quý giá. Em tin rằng, dù anh có còn viết cho báo nữa hay không thì trong tâm của những nhà báo chân chính, những người yêu thị trường chứng khoán Việt Nam, bạn đọc và người làm truyền thông liên quan, vẫn thầm cảm ơn Anh và quý trọng Anh chân thành” (Nhà báo Phạm Oanh, Thư ký Toà soạn Tạp chí Kinh tế và Dự báo – Nguyên Trưởng ban CK Báo Đầu tư).

Một số phân tích mang dấu ấn của ông có thể kể: Loạt bài “Kinh tế dùng sức và Động cơ tự hành trước yêu cầu phát triển đột phá” chạy liên tục trên mạng VietnamNet trong 3 ngày Tết đầu năm 2005 (15-16-17/2/2005). Loạt bài này đã được đăng lại trên Thời báo KTSG số ra ngày 7-4-2005. Nặng ký không kém là tham luận “Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa, kinh nghiệm thế giới và thực trạng Việt Nam” trình bày tại Hội thảo Khoa học do Đại học Tôn Đức Thắng tổ chức ngày 16-06-2012, hay loạt bài “Suy thoái toàn cầu, vấn đề mỗi nước” trong tuyển tập ‘Khủng hoảng toàn Cầu và Giải pháp của Việt Nam’ do Trung tâm Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương /VAPEC xuất bản sau đợt khủng hoảng 2008.

Việc đứng tên vào các “panel” tên tuổi (các tạp chí chuyên ngành), tham gia các hội đồng chuyên môn học thuật, được mời hay đặc cách vào các tổ chức uy tín như VIAC, TTCK, STR, PACE… cho ông cảm nhận hữu ích. Riêng việc đứng trong nhóm Nghiên cứu STR cùng 34 học giả đầu ngành khác trong nước và tại Âu, Mỹ, Úc, Đức, Nhật, dưới trướng cựu TT Võ Văn Kiệt là một vinh dự.

Cũng có những điều nhỏ đã cho ông niềm vui không nhỏ. Đó là khi nhiều người gặp chào hay gọi tên ông ở một nơi nào đó, rất niềm nở nhưng ông không nhận ra quen biết. Đến khi nghe nói “em đã học thầy”, “em đọc anh nhiều mà nay mới gặp”, hay cho biết là người làm ở đâu đó, thì ông mới biết họ là ai. Ông cho đó là thứ hạnh  phúc ‘trời cho’.

Những đóng góp trong sự nghiệp nghiên cứu và công tác.

NKH. Huy Nam thăm trường cũ, ĐH Đà Lạt, cùng GS Phó Bá Long, 2010

Các nghiên cứu của ông là về kinh tế ứng dụng nên các ấn phẩm  chuyên ngành đều có hướng “nhập thế” để phục vụ nhu cầu thực tiễn. Nhiều rút tỉa có được  không  thuần  là  từ lý thuyết cao xa mà đó là các kiến giải từ thực tiễn.

Các nghiên cứu có tính hệ thống thì được ông trình bày theo bài bản học thuật nhằm mục đích ứng dụng trong triển khai, sử dụng trong đào tạo, để thiết đặt hay điều chỉnh các chuẩn mực thực hành. Bên cạnh đó là các biên soạn có mục đích phục vụ đại chúng, để ai cũng đọc được, hiểu được. Bởi, nhiều đề tài lớn và khó về kinh tế tài chánh vĩ mô và vi mô, dù được nghe mỗi ngày nhưng không phải ai cũng có khả năng tiếp thu. Ý thức được nhu cầu rất lớn và chính đáng này, ông dành nhiều thời gian và tâm huyết đáp ứng và đã được chào đón nhiệt tình. Có thể tìm thấy điều này trong hàng nghìn trang viết của ông được phổ biến trên nhiều ấn phẩm hay diễn đàn hàng chục năm qua. Theo đó, nhiều vấn đề lớn, phức tạp, khó và khô đã được ông chẻ nhỏ, đóng trong từng gói nhỏ, được lý giải và trình bày theo một mạch văn đơn giản nhưng không hạ thấp giá trị tiếp thu. Đây là cách rất riêng của ông, giúp đại chúng bổ sung hiểu biết dễ dàng, được ông ví von là để “chèn” kiến thức.

Có khoảng hơn 600 bài phân tích, tham luận, phản biện, được tải đi trên các tạp chí kinh tế tài chánh uy tín, như Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Thời báo Kinh tế Việt Nam, Báo Đầu tư, Đầu tư Chứng khoán, SGTimes Daily, VN Logistics Review. Bên cạnh các phát biểu, trình bày, là diễn giả tại các hội thảo khoa học ở Sài Gòn và Hà Nội, ông còn là khách mời của nhiều trao đổi chuyên đề, ‘talk show’, trên các trang mạng, các đài truyền hình VTV, HTV, THVL, FBNC và tại một số tỉnh thành. Rất hạn chế là việc trả lời báo đài nước ngoài các vấn đề về kinh tế chứng khoán.

Các kết quả nghiên cứu đã được ông tập trung trong 11 dự án sách riêng và 7 cuốn viết chung với nhiều tác giả, đã được các nhà xuất bản TPHCM, NXB Trẻ, Thanh Niên, Tài Chính, Chính Trị Quốc Gia, TT Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương ấn hành. Bên cạnh các đầu sách học thuật biên soạn phục vụ chuyên ngành, các ấn phẩm viết vào thời kỳ chuyển đổi của nền kinh tế tập hợp nhiều đề tài luận bàn chuyện đại sự quốc gia. Đó là các chuyên đề góp phần hoá giải các nội dung gai góc, gợi mở tầm nhìn theo ước lệ, trước các thực tế giao thời kém hội nhập.

NKH. Huy Nam trao CC Tốt nghiệp cho Học viên PACE -2020

Việc biên soạn của ông thường được trình bày theo khảo hướng (approach) nhìn ra thế giới, được lý giải và kiến giải dựa trên chuẩn mực khoa học và thông lệ hành xử phổ cập để phục vụ yêu cầu phát triển bắt kịp. Về lâu dài, các tài liệu này có thể được xem là nguồn tham khảo giá trị về góc nhìn của một chứng nhân đương thời trong giai đoạn kinh tế chuyển mình. Các nội dung nhập thế có ý nghĩa thực tiễn cao đó tập trung rõ nhất trong các ấn bản: Hội nhập Bắt đầu từ Bên trong, Ẩn số Động lực trong Phát triển Kinh tế, Kinh tế Tài chánh Nhìn thẳng từ Khúc quanh…

Trong nghiên cứu và viết lách ông cân nhắc từ lúc tư duy đến khi xuống giấy. Là người viết, ông hiểu rằng mình không có dịp ngồi cùng người đọc để phân minh, nên luôn cẩn trọng câu chữ và lời lẽ. Là người nghiên cứu để truyền đạt, ông tự thấy có trách nhiệm giải trình (accountability) nên tận tuỵ. Mỗi bài viết của ông có thể xem là một tác phẩm. Yêu cầu khách quan hay độ đậm nhạt chủ quan theo đó tuy có tuỳ thuộc từng sản phẩm (nghiên cứu học thuật hay tham luận) thì mục đích vẫn luôn trong sáng, không vụ lợi, vuốt ve.

Nhiều nội dung nghiên cứu và phân tích của ông đã được các tổ chức liên quan như Quốc hội, VCCI, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước… ghi nhận và trích dẫn trong các tài liệu có mục đích riêng, hay cho các dự án luật, được đưa vào một số điều luật, như Luật Doanh Nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán.

Các nội dung nghiên cứu cũng được nhiều giảng viên các trường đại học và sinh viên sử dụng trong giảng dạy, học tập và tham khảo. Một số sinh viên đã trực tiếp nhờ ông hỗ trợ xây dựng đề tài, một ít chuẩn thạc sĩ và nghiên cứu sinh thì gặp xin tài liệu và tham vấn ý kiến. Các bài liên quan nội dung lớn còn được đưa vào tài liệu giảng dạy, làm đề tài thảo luận nhóm, thuyết trình hay gợi ý viết luận văn. Cụ thể như bài “Viết” được sử dụng giảng dạy và sinh viên báo chí tham khảo. Bài “Startup là gì, tại sao cần Thiên sứ” cho sinh viên kinh tế chương trình thạc sĩ.

Điều đặc biệt là lần đầu tiên một giải nhất báo chí (Giải Báo chí TPHCM 2005) đã được trao cho Huy Nam, một người không là nhà báo, với tác phẩm chính luận “Quê hương hơn một” đăng trên số Xuân Kinh tế Sài Gòn Tết Ất Dậu. Nhưng không đợi đến khi có giải, bài viết đã được đón nhận xúc động từ lúc báo còn thơm mực. Trong một dịp tiếp xúc tất niên tại toà soạn, nhiều người đã cảm ơn ‘ông đã nói thay mình’. Bài này cũng đã được đưa vào tuyển tập của Thời báo Kinh tế Sài Gòn có tựa đề “Hai mươi bốn giờ Một phút”, xuất bản năm 2010. Quê hương hơn một được cho là tâm tư ẩn giấu của nhiều người lưu lạc, xa quê, nên ai cũng dễ thấy mình trong đó. Nhiều người gặp (hoặc biết ra ông) là tác giả đã chia sẻ nhiều xúc cảm.

Về chuyên ngành, ông được cộng đồng nhìn nhận chính danh là chuyên gia chứng khoán có tầm và hiếm hoi từ khi thị trường chưa mở cửa. Ông nghiên cứu chứng khoán và TTCK theo bài bản khoa học, đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng và hình thành thị trường tại Việt Nam, cung cấp tài liệu nền tảng chuyên sâu về học thuật và nghiệp vụ cho giới tài chánh. Các tài liệu biên soạn, sách nghiệp vụ của ông được sử dụng phổ biến và ứng dụng rộng rãi trong thực hành, là nguồn tham khảo chính trong quá trình tổ chức và triển khai hoạt động doanh nghiệp cổ phần.

Với mảng chuyên sâu này, ông đã được các nhân vật cấp cao trong ngành (là chủ tịch UBCK và Sở Giao dịch CK) thừa nhận về tư cách chuyên nghiệp, được đánh giá cao với lời lẽ trọng thị. Ngoài ra, ông cũng được xem là một thành viên có đóng góp thiết thực sáng lập nên tờ Đầu tư Chứng khoán, vốn nhen nhóm từ trước năm 2000.

Qua các kết quả nghiên cứu và đóng góp có giá trị, ông được 4 tờ báo mời đứng vào các ‘panel’ với tư cách chuyên gia hoặc cố vấn, gồm Thời báo Kinh tế Sài Gòn và Saigon Times Research STR, Báo Đầu tư và Đầu rư Chứng khoán, Nguyệt san Vietnam Logistics Review, Tạp chí Nhà Đầu tư Nước ngoài.

Song song với hoạt động nghiên cứu là hoạt động triễn khai trong thực tiễn, là người sáng lập và tư vấn cấu trúc và tái cấu trúc tại hơn 30 doanh nghiệp. Trong đó có các công ty nay đã thành danh như Thaco Trường Hải, CotecCons, Nam Long, NutiFood, Softech Đà Nẵng… Ông cũng trực tiếp làm việc và/hoặc tư vấn cho các công ty nước ngoài như Kyoshin, Nissey, Kizuna (Nhật), Vabis (Úc) và Nienstedt (Đức). Đặc biệt hơn, ông là người sáng lập và điều hành Saigon Burotel, là thành viên có công đầu đóng góp sáng lập Nuti Food và Thiên Nam đã hơn 20 năm.

NKH. Huy Nam thăm GS Trần Văn Thọ tại ĐH WASEDA, Nhật

Nhiều phân tích riêng của ông cho nhiều tỉnh thành để khơi gợi các góc khuất tiềm năng kinh tế đã được sử dụng hiệu quả. Bài “Miền Trung, cơ hội tìm lại mình” gợi mở hằng loạt dự án đánh thức các vùng cát khô cằn dọc biển, đem lại sức sống mới cho nhiều khu du lịch nghỉ dưỡng nổi tiếng tại nhiều địa phương. Bài “Sài Gòn không chỉ có bờ Tây” đặt vấn đề phát triển cho Thủ Thiêm và khu Đông SG. Bài “Một Bà Rịa Vũng Tàu không dầu khí” giúp địa phương này nhìn ra cơ hội trên đất liền, làm tiền đề cho sự kiện xúc tiến đầu tư đình đám hồi năm 2010 với sự hỗ trợ của Bộ KH Đầu tư. Các phân tích và tài liệu đề xuất khác cho Đà Nẵng, Quảng Nam, Đồng Nai, Bình Dương, Nghệ An ít nhiều đều hữu ích.  TT Xúc tiến Đầu tư Đà Nẵng (DPC) là ví dụ. DPC ra đời từ một nghiên cứu ‘đặt hàng’ như một dự án khả thi về mô hình IPA (investment promotion agency) dành cho thành phố này.

Dù chuyên sâu mảng kinh tế tài chánh, rất nhiều trang viết của ông là tản mạn, để chuyển tải tâm tư, để trải lòng và chia sẻ. Suy nghĩ để trải lòng là của ông nhưng cũng là điểm rơi của nhiều góc nghĩ, góc nhìn. Các tâm tư thể hiện trong Quê hương hơn một, Sự kìm hãm của Lo và Sợ, Người cha thầm lặng, Tại sao tôi yêu trường cũ, Việt kiều Mỹ gốc Hoa, Nước Đức như và không như tôi nghĩ, Cảm nhận Úc Châu… là những mảng xanh đó.

Ông cũng có 3 bài thơ đặt ở 3 góc riêng của mình: một cho mẹ, một cho con, và một cho ‘một nửa’ của mình. Bài cho con (có tên Hạnh phúc) ông có dịp đọc trong lễ cưới của người con thứ hai, đã làm ‘cay mắt’ chàng trai và nhiều khách.

Chia sẻ quan điểm, suy tư về lĩnh vực công tác thời 4.0 và đôi điều gửi gắm thế hệ trẻ.

Băn khoăn và trăn trở về vấn đề lạm dụng cụm từ ‘cách mạng công nghiệp 4.0’, chuyên gia kinh tế Huy Nam chia sẻ: Tôi học, đọc, nói, viết chữ Việt và tiếng Việt đã hơn 60 năm, không thấy có vấn đề gì trong sử dụng và thông đạt. Thế nhưng không hiểu vì sao những năm gần đây chữ Việt và tiếng Việt cứ bị đem ra “băm” và thử nghiệm với cả công nghệ 4.0. Việc không ai chịu ai thật đáng suy ngẫm.

Trong giáo dục, vấn đề tồn tại ở bậc thấp lâu nay là chương trình học, là sách giáo khoa. Việc cứ in đi sửa lại sách học văn chẳng hạn, không những đã làm khó học sinh mà phụ huynh và cả thầy cô cũng khổ. Bởi, việc chuẩn định ngữ nghĩa là việc phải làm trước từ người lớn, cần thống nhất toàn quốc, tránh áp đặt phương ngữ vùng miền rồi dạy đại trà cho lớp nhỏ cả nước. Không để các em học chữ Việt phải cần ‘người dịch’. Vấn đề khác là chữ viết các em ngày nay thường xấu hay rất xấu. Vấn đề này cần được sửa ngay, đừng để các ‘nút bấm’ gây hại ngón tay viết chữ của các em.

NKH. Huy Nam với gia đình ngày người con đầu tốt nghiệp Ph.D

Có nên tham khảo do đâu mà người Âu Mỹ, dù phương tiện ‘gõ’ ở họ phát triển sớm, chữ viết tay của họ vẫn rõ đẹp? Có nên tìm hiểu “chữ ký” trong tiếng Anh là “signature” diễn đạt ý nghĩa gì (?) nếu không phải là cái ‘biểu trưng’ hay ‘đặc trưng’ của người ký?…

Ở bậc học cao, theo ông, cần giảm học chay và học theo ‘khuôn’, bởi ngành nào cũng cần sáng tạo để ra làm việc chứ không chỉ để lý luận. Nơi ông học ngày trước, sinh viên bị buộc phải ‘cày’ trong thư viện, do tài liệu tham khảo chủ yếu là tiếng Anh nên buộc sinh viên phải giỏi tiếng Anh. Ông còn nhớ, mới vào năm học đầu thầy khoa trưởng dạy môn quản trị, GS Phó Bá Long (tốt nghiệp Havard Business School 1956) đã bắt sinh viên tìm hiểu việc cải thiện năng suất từ công ty Hawthorn của Mỹ… Cú nhập môn khá căng này buộc ông mất 3 tuần cắm đầu lật tài liệu để có điều muốn biết… Đó là một thí nghiệm điều chỉnh ánh sáng trong sản xuất để có độ sáng làm việc phù hợp, giúp công nhân thoải mái,  cho  năng  suất tối ưu.

Không có ý cào bằng nhưng ông cho rằng, nếu ‘học’ mà không ‘tập’, ‘học’ mà không ‘hành’, quá trọng bằng cấp với các thực tế “học giả bằng  thật”,  thì  tình trạng nghi ngờ học vị, dị ứng học hàm là góc lỗi của giáo dục.

Cách mạng Công nghiệp 4.0 là cần thiết cho yêu cầu phát triển bắt kịp. Tuy nhiên, cho dù là xu thế thì việc ứng dụng ở đâu, tầng nấc nào, mức độ ra sao, để thu đạt hiệu quả tối ưu, là câu hỏi. Tình trạng cổ xuý chung chung, ứng dụng đại trà để rơi vào cảnh ‘thử và sai’ có thể gây tổn phí nguồn lực. Chẳng hạn, việc cổ xuý start-up nếu bị đẩy lên quá mức sẽ dễ tạo ra những cái đầu ‘hoang tưởng’, dễ có khoảng trống không có lợi cho các hoạt động cơm gạo thực tế và thực chất.

Từ trải nghiệm cuộc đời, ông rút ra được lẽ sống và cách hoàn thiện bản thân hiệu quả. Theo đó, dù đại học là cấp học cao, nhưng muốn thành công hay thành danh mà chỉ dừng ở đại học, không tiếp tục ‘sau đại học’, thì không chắc và không đủ, kể cả người đã có thạc sỹ hay tiến sĩ. Con đường ‘sau đại học’ ông nói ở đây là môi trường thực ngoài đời, là học đời, học việc, là tự học, học để kiếm cơm, vì đam mê hay để đổi đời… Con đường sau đại học như vậy ai cũng học được, không kén bằng cấp đầu vào, không cần ‘chạy’ đầu ra, nhưng chính đây mới là đường dẫn đến thành công. Và ai muốn thành danh thì phải khổ luyên nhiều. Ông cho biết, cách mà trường PACE làm lâu nay cũng nằm trong ý hướng này. Người học ở đó hầu hết đã đi làm, có nhu cầu ‘update’, đa số xong đại học và không ít có học vị cao hơn.

Đường đến thành công của ông đơn giản là con đường ‘sau đại học’ như ông nói trên đây. Thêm vào đó là “yêu cầu tập trung, sự kiên trì bền bỉ với hoài bão hiển đạt (achievement dream). Có vẻ như điều này phần nào đã chắp cánh để ông vươn lên. Đây cũng là mấy ý ông muốn truyền đạt và chia sẻ với các bạn trẻ ngày nay.

Nói về những ấp ủ gần đây, ông mong có dịp thực hiện một tuyển tập chọn lọc các bài viết giá trị, những ghi nhận và góc nhìn vào giai đoạn chuyển mình của nền kinh tế nước nhà, để lưu giữ và chia sẻ với người quan tâm, đặc biệt là với giới trẻ. Chia sẻ và truyền đạt cho người quan tâm và các bạn trẻ là điều ông tâm huyết thực hiện trong nhiều năm qua, mong sẽ tiếp tục nếu có cơ hội và nhu cầu. Ông nói ‘mình không tốt đâu’, làm vậy chỉ là để không bị mai một và bớt lạc hậu.

Chúc ông luôn mạnh khỏe để thực hiện điều mong ước và tiếp tục cống hiến.

Biên soạn: Đoàn Lam

Alpha Books giới thiệu Tuyển tập Huy Nam “Tương thích & Phát triển Bắt kịp”

Alpha Books 

oedpSrnsto1hfc6fáu0h180025 n4m4 7gu2 24hc3gt2t4,1mg0i9f29c63 ·

THÔNG TIN SÁCH: TUYỂN TẬP KINH TẾ TÀI CHÁNH CHỨNG KHOÁN – TƯƠNG THÍCH & PHÁT TRIỂN BẮT KỊP

Không có mô tả ảnh. Không có mô tả ảnh.

 

📍Cuốn sách đặc biệt dành cho giới chuyên gia, người nghiên cứu, làm báo và các bạn sinh viên – những người có mối quan tâm đặc biệt với tài chánh, chứng khoán và những vấn đề xoay quanh nó.

📍Cuốn sách cung cấp các nghiên cứu chuyên sâu với góc nhìn đương thời dựa trên nền tảng tri thức khoa học cùng những trải nghiệm làm việc thực tế, bài bản trong suốt 30 năm của tác giả Huy Nam triển khai hoạt động kinh tế thị trường tại Việt Nam.

TUYỂN TẬP KINH TẾ TÀI CHÁNH CHỨNG KHOÁN mang đến điều gì?

👉🏻Tổng hợp những nghiên cứu, phân tích học thuật, tham luận và phản biện hoạt động tài chánh chứng khoán, với nội hàm khoa học và chia sẻ tâm huyết, đóng góp vào giai đoạn mở cửa hội nhập của nền kinh tế Việt Nam từ năm 1990.

👉🏻Nội dung cuốn sách dựa trên tôn chỉ học thuật và được truyền tải trên nhiều diễn đàn và báo chí: Tạp chí Kinh tế Sài Gòn, Saigon Times, Kinh tế Việt Nam, Chứng khoán Việt Nam, Đầu Tư và Đầu tư Chứng khoán, Vietnam News, Vietnam Logistic Review, Vietnam Net, VnExpress, Báo Tài Chánh, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu; các ấn bản sách, các hội thảo khoa học và kỷ yếu nhiều nơi…

………………………………………………….

ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ HUY NAM

▪️Chuyên gia kinh tế độc lập lớp đầu từ khi Việt Nam mở cửa kinh tế thị trường – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC – Giảng viên Học viện PACE – Cố vấn /tư vấn tái cấu trúc phát triển doanh nghiệp và niêm yết – Thành viên Hội đồng Chỉ số TTCK – Cộng tác học thuật UB Chứng khoán Việt Nam, VCCI, Saigon Times STR, VIR… Đóng góp và phản biện Luật Doanh nghiệp, Đầu tư và Chứng khoán.

Độc giả quan tâm thêm về sách Tương thích và Phát triển Bắt kịp tại:

https://www.fahasa.com

https://shopee.vn

https://tiki.vn/

https://shop.alphabooks.vn/

https://sachkhaiphong.com

 

Tạp chí Kinh tế VN – Hồng Lĩnh Trao đổi cùng Nhà khoa học Huy Nam: Tản mạn học ở trường đời

https://vneconomy.vn/tan-man-hoc-o-truong-doi-cung-nha-khoa-hoc-huy-nam.htm

Ngành chứng khoán – nơi ông cùng lớp các nhà khoa học đầu tiên gom góp tri thức xây nền tảng pháp lý, định hình các nghiệp vụ từ hơn 2 thập kỷ trước, đang ở một giai đoạn vất vả khi quy mô thì lớn nhanh, nhưng chất lượng nhiều mặt trong lòng thị trường vẫn “vàng thau lẫn lộn”. Vậy điểm yếu nằm ở đâu nếu nhìn vào chuỗi liên kết giữa các chủ thể tạo nên thị trường, thưa ông?

Điểm yếu nằm ở chỗ thị trường chưa có được sự vận động đồng bộ. Là định chế bậc cao của nền kinh tế, TTCK rất cần có cơ chế vận động đồng bộ, tương thích và chuyên nghiệp. Một thị trường hoạt động trơn tru sẽ cần các thành tố đóng góp chuẩn mực. Thị trường thăng trầm mấy năm trước có thể là do tác động khách quan, nhưng tình trạng bất thường gần đây là do nội tại. Sắp tới nếu tình trạng này vẫn tiếp diễn thì sẽ cần sự quan tâm sâu vào nhiều mặt.

Để hóa giải, tôi nghĩ sẽ không có “cây đũa thần” nào tác động, không ai đủ tầm đưa ra giải pháp, gây dựng lại niềm tin. Ở đây tôi xin mạo muội nêu lên một số vấn đề (chỉ đặt vấn đề) để tìm hướng đi. Trước tiên là vấn đề biến động thái cực, là tình trạng khi “mập bịnh” lúc “ốm đói”, ai cũng biết sẽ cần rà soát nhiều mặt nhưng “ai” làm và làm thế nào? Về mặt pháp lý, thời gian qua ta thường nghe có bất cập, nhiều “lỗ hổng”, nhưng vá chỗ nào, sửa làm sao, tập trung và bổ sung ở đâu, sẽ cần nhìn lại nghiêm túc. Cần nhận diện rõ và liệt kê chi tiết điều gì, hoạt động nào, mảng nào, nghiệp vụ nào, chủ thể hay thành tố nào là điểm mạnh cần phát huy hoặc là điểm yếu cần tập trung điều chỉnh, cải thiện. Ngoài ra, còn nhiều vấn đề khác về nhà đầu tư, chủ thể liên quan, quy mô giao dịch, thu hút đầu tư…

VnEconomy

Về hành lang dẫn hướng thị trường, có thể thấy, pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán tuy đã có nhưng chưa sâu, chưa bám sát thực tế vận động và phủ đều các mặt hoạt động; yêu cầu kiểm soát, theo dõi và giám sát (watchdog nói chung) còn lỏng. Về thông lệ hành xử (là phần mềm phẩm chất) chậm hình thành, chưa là yếu tố bổ sung cho cây gậy pháp luật điều chỉnh hành vi thị trường.

Nhiều mảng hoạt động chưa chặt chẽ, kém phát huy như kiểm toán, tư vấn phát hành, bán riêng, tự doanh. Hoạt động tư vấn phát hành và kinh doanh trái phiếu lỏng về nề nếp và luật lệ, gây nên trình trạng tranh thủ có hại. Một số hoạt động giao dịch trên sàn tuy phong phú, nhưng hiệu dụng còn hạn chế, kém tích cực. Cần rà soát lại nghiệp vụ margin, xem lại mục đích, mức độ và thực tế đóng góp của các sản phẩm phái sinh cho thị trường là gì, nếu đơn giản chỉ phục vụ đánh cược thì không nên.

Hoạt động môi giới cần đặt nặng vai trò tư vấn cho nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư mới gia nhập thị trường, nhà đầu tư trẻ, thay vì quá chú trọng việc đặt lệnh, “chốt lời, cắt lỗ”. Mặt khác, nhà đầu tư không chỉ đánh đấm trên sàn, mà họ còn cần kiếm lợi trực tiếp từ công ty niêm yết. Họ cần doanh nghiệp có thực lực vững mạnh, có khoản chia cho họ (cổ tức), nghĩa là cần có tiền chứ không chỉ tiếng.

Thị trường tài chính rất nhạy cảm, có yêu cầu chuyên sâu chuyên nghiệp cao, nghiệp vụ tài chính lại đa dạng và khá phức tạp, nên cần sự tham gia đồng bộ và đóng góp tích cực của các thành tố tham gia, sự vận hành chắc tay từ các phía và nhiều bên sẽ giúp thị trường phát triển. Hơn lúc nào hết, trong giai đoạn có nhiều bộc lộ không mong muốn này, thị trường cần sự quan tâm cải thiện đúng mực về mặt quản lý điều hành để củng cố niềm tin và phát huy tác dụng, cần các hành lang pháp lý bám theo để giữ ổn định và bảo vệ các bên tham gia, nhất là đại chúng.

Đầu năm 2022, sau thời gian thị trường “mập” nhanh và thể trạng dần xuống dốc, tôi có đề nghị các lãnh đạo ngành nên thực hiện một đợt phổ biến kiến thức nền tảng về TTCK cho quần chúng rộng khắp. Mục đích để có nhiều hơn các nhà đầu tư có hiểu biết tối thiểu, giảm thiểu tình trạng đầu tư theo cảm tính bầy đàn, gây bất lợi cho họ và cho thị trường, nhưng điều kiện chưa cho phép.

VnEconomy

Ở tuổi tạm gọi là lão làng, ông đã dành tặng bạn trẻ lời khuyên “trường học lớn nhất chính là trường đời”. Tuy nhiên, nếu nhìn vào thực tế khởi nghiệp và số doanh nghiệp phải dừng hoạt động, phá sản những năm gần đây có thể thấy, “trường đời” quả thực rất khắc nghiệt. Vậy người trẻ cần học điều gì trước khi khởi nghiệp để bớt vấp ngã và nếu có vấp lại đứng lên được, thưa ông?

Trong cuốn sách “Những nhà khoa học Việt Nam tiêu biểu” năm 2022, tôi đã chia sẻ: “Muốn thành công hay thành danh mà không tiếp tục “sau đại học”, thì không chắc và không đủ, kể cả người đã có thạc sỹ hay tiến sỹ. Con đường “sau đại học” ở đây là môi trường thực ngoài đời, là học đời, học việc, là tự học, học để kiếm cơm, vì đam mê hay để đổi đời… Con đường sau đại học như vậy ai cũng học được, không kén bằng cấp đầu vào, không cần “chạy” đầu ra, nhưng chính đây mới là đường dẫn đến thành công. Muốn thành danh thì phải khổ luyện nhiều”, ý này rộng và sâu, chứ không cụ thể điều gì và không riêng cho khởi nghiệp. Quá trình “sau đại học” đó là giai đoạn tích lũy sự dày dạn, đối diện những lên bờ xuống ruộng từ thực tiễn cuộc sống…

Theo quan sát, thời gian qua cùng với các hoạt động thời sự về Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc cổ súy start-up đã được đẩy lên cao, điều này tốt thôi, nhưng nếu quá mức sẽ dễ tạo ra những cái đầu “hoang tưởng”, dễ có khoảng trống không có lợi cho “khởi nghiệp cơm gạo” thực tế và thực chất. Xin mở ngoặc, tôi gọi khởi nghiệp cơm gạo (starting a business) là việc bắt đầu một hoạt động kinh doanh trong thị trường đang có, ban đầu thường nhỏ với tinh thần tự lập tự chủ. Khác với startup là sự khởi tạo đột phá có tính mạo hiểm và khắc nghiệt, do cần được các nhà đầu tư thiên thần để mắt, nhưng không dễ.

VnEconomy

Thời gian qua, sự khắc nghiệt của “trường đời” đã làm cho nhiều bạn trẻ thất vọng, thậm chí trắng tay, là kinh nghiệm cho các trường hợp không chắc bước. Theo tôi, trong quá trình xây dựng cuộc sống, các bạn trẻ cũng nên túc ta túc tắc, kiên trì học, làm, quan sát tích lũy kinh nghiệm theo năm tháng để có độ chín cần thiết. Bởi, sẽ không có cú nhảy vọt nào trong cuộc sống bình thường, nếu bạn không có “bệ phóng” hay “tấm thảm bay”. Hãy nuôi hoài bão nhưng không vội đặt mình trước kỳ vọng cao.

Tôi có người bạn già người Úc, là cha nuôi của gần một ngàn sinh viên Việt Nam trong 25 năm qua, hễ gặp các em là ông nhắc “Dream, Believe and Do”. Đây như một slogan nhắc nhở nhau, em nào cũng nằm lòng. Vâng, “Hãy ước mơ, Hãy tin và Làm”. Ước mơ và tin thì dễ. Làm mới khó. Làm bằng đầu và đi cũng bằng đầu, chứ không phải bằng tay bằng chân. Suy cho cùng thì làm gì cũng bằng cái đầu. Kể cả nhìn cũng bằng đầu chứ không chỉ bằng mắt. Khi biết nhìn bằng đầu, ta sẽ không dễ bị các hào quang “nổi tiếng”, “giàu nhanh”, “sống ảo”, “sống vội” dắt đi, cần nhận ra đó như các hội chứng nguy hại.

VnEconomy

Ông định nghĩa thế nào về hạnh phúc? Với tư cách là giảng viên Trường doanh nhân PACE và là diễn giả nhiều nơi, ông thường trao truyền bài giảng/khuyên gì cho các  học viên – doanh nhân của mình – khi họ khát khao tạo dựng giá trị và cũng có “hoài bão hiển đạt” như tuổi trẻ ông đã từng trải qua?

Hạnh phúc là gì? Không thể hay khó có một định nghĩa chung nào cho tất cả. Tùy theo mức độ, sự cảm nhận và nhìn nhận, đó có thể là sự vui sướng, thỏa mãn, sự đạt thành, mãn nguyện… Với tôi và có lẽ cũng với nhiều người, cảm thụ về hạnh phúc có cả các điều vừa nói và rộng hơn. Một cách chung nhất, có thể hiểu hạnh phúc là tính tự hưng phấn, có giá trị nhất thời hoặc lâu dài. Hạnh phúc sẽ dài hơn khi ta với tới một tầm hạn nào đó, lúc hiển đạt ước mơ, hay cảm nhận điều hữu ích, cho mình và cho tha nhân. Theo tôi, một gia đình an yên, con cái thành người, có nhiều bạn quý mến là niềm hạnh phúc quý giá ai cũng kiếm tìm, mong đợi.

Tôi làm việc nhiều, giảng dạy nhiều, viết lách và truyền bá nhiều, nhưng thành thật mà nói, tôi chưa bao giờ dám truyền đạt hay khuyên ai điều gì để có hạnh phúc. Bởi việc cảm thụ hạnh phúc có thể không giống nhau. Có chăng là các khuyến nghị xa gần để có kết quả, như sự khát khao, kiên trì tập trung bền bỉ cho hoài bão hiển đạt. Dù sao thì những gì tôi nói ở đây chỉ là cảm nhận thôi.

VnEconomy

VnEconomy 14/01/2023 06:00

 

Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 02 phát hành ngày 09-01-2023. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây: 

https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam

Tạp chí Kinh tế VN: Giới thiệu Tuyển tập Huy Nam “Tương thích & Phát triển Bắt kịp”

Tạp chí Kinh tế Việt Nam

Cuốn sách Tương thích và phát triển bắt kịp: Tư liệu quý về đổi mới kinh tế Việt Nam

https://vneconomy.vn/cuon-sach-tuong-thich-va-phat-trien-bat-kip-tu-lieu-quy-ve-doi-moi-kinh-te-cua-viet-nam.htm

Theo Giáo sư Trần Văn Thọ, tác giả Huy Nam là một trong những chuyên gia uy tín đã đóng góp rất nhiều để giúp các nhà hoạch định chính sách tìm ra hướng đi phù hợp trong gần 40 năm qua. Cuốn sách Tương thích và phát triển bắt kịp là tư liệu quý rất đáng đọc nếu muốn tìm hiểu về quá trình đổi mới của Việt Nam…

Tác giả Huy Nam được biết tới là chuyên gia kinh tế độc lập từ khi Việt Nam mở cửa kinh tế thị trường. Ông cũng từng là thành viên Hội đồng Chỉ số tài chính chứng khoán.

Cuốn sách “Tuyển tập kinh tế tài chính và chứng khoán – Tương thích và phát triển bắt kịp” là hợp tuyển những nghiên cứu, phân tích học thuật, tham luận và phản biện hoạt động tài chính chứng khoán của tác giả Huy Nam, với nội hàm khoa học và chia sẻ tâm huyết, đóng góp vào giai đoạn mở cửa hội nhập của nền kinh tế Việt Nam từ năm 1990.

Cuốn sách chuyển tải những nghiên cứu chuyên sâu và ghi nhận góc nhìn đương thời của một người đã làm việc trong suốt hơn 30 năm đổi mới và triển khai hoạt động kinh tế thị trường. Đó là giai đoạn chuyển mình đầy trăn trở trong điều kiện “vừa chạy vừa xếp hàng” của nền kinh tế Việt Nam.

Nhờ có trải nghiệm qua thực tế làm việc và nền tảng tri thức khoa học, những tích góp “vừa bài bản vừa ứng dụng” trong cuốn sách có thể xem là tư liệu tham khảo giá trị, nhiều chuyên đề nay vẫn còn rất thời sự.

Các vấn đề kinh tế, kinh doanh, tài chánh, chứng khoán rất khô khan nhưng việc diễn đạt làm sao cho dễ hiểu với những người không có chuyên môn trong ngành thực sự là điều rất quan trọng, và tác giả Huy Nam đã giúp người đọc tiếp cận những khái niệm – vấn đề này một cách tốt nhất.

Theo Giáo sư Trần Văn Thọ, Đại học Waseda, Nhật Bản, vào khoảng đầu thập niên 1990 các giới ở Nhật Bản bắt đầu bàn nhiều về triển vọng đổi mới ở Việt Nam. Nói chung các ý kiến đều lạc quan về triển vọng cải cách và phát triển của nước ta.

Một yếu tố để họ lạc quan là Việt Nam có một miền Nam đã từng phát triển trong cơ chế thị trường và hy vọng kinh nghiệm đó sẽ lan tỏa ra khắp nước. Đó là điểm khác biệt giữa Việt Nam với nhiều nền kinh tế ở Đông Âu trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi không hề dễ dàng. Những lãnh đạo thức thời đã phải nỗ lực tạo đồng thuận và dò dẫm để đưa ra lộ trình khả thi. Trong tình hình như vậy vai trò của các chuyên gia uy tín rất quan trọng trong việc đóng góp tri thức giúp xã hội nói chung và các nhà lập chính sách nói riêng hiểu rõ về kinh tế thị trường, về kinh nghiệm thế giới, và kết quả là đã rút ngắn được quá trình tạo đồng thuận để đưa ra các chính sách cải cách.

Theo Giáo sư Trần Văn Thọ, Huy Nam là một trong những chuyên gia uy tín đã đóng góp rất nhiều để giúp các nhà hoạch định chính sách lựa chọn, tìm ra hướng đi phù hợp trong gần 40 năm qua.

Giáo sư Trần Văn Thọ cho biết, chuyên gia kinh tế Huy Nam được đào tạo bài bản, với kiến thức cơ bản về chuyên môn và khả năng ngoại ngữ, cùng với nhiệt huyết muốn đóng góp vào việc cải cách và phát triển đất nước, nên chuyên gia này đã theo dõi những thay đổi trên thế giới, nghiên cứu thêm về lý luận và khảo sát thực tiễn của Việt Nam để đưa ra các khuyến nghị cần thiết.

Về cuốn sách Cuốn sách “Tuyển tập kinh tế tài chính và chứng khoán – Tương thích và phát triển bắt kịp”, Giáo sư Trần Văn Thọ nhận xét, tác giả Huy Nam là người có khả năng viết, diễn đạt xuất sắc.

Giáo sư Trần Văn Thọ dẫn chứng: “Thứ nhất, tôi tâm đắc nhất chỗ tác giả Huy Nam bàn về điểm phải tương thích mới hội nhập đổi mới ở Việt Nam là quá trình cải cách thể chế để phân bổ các nguồn lực có hiệu quả và cũng là để hội nhập, tham gia phân công lao động với các nước theo cơ chế thị trường, với mục tiêu là phát triển kinh tế. Để hội nhập phải tương thích, tương thích từ cách dùng khái niệm, chữ nghĩa thông tin, đến đường lối, nguyên tắc ở tầm quốc gia. Như đã đề cập ở trên, thực tiễn sống động luôn bị tư tưởng, lý luận xưa cũ níu kéo. Do đó trong một thời gian dài, các văn bản về chủ trương, chính sách thường cố né tránh bản chất khi dùng từ ngữ, khái niệm liên quan đến cải cách, phát triển”.

Giáo sư Trần Văn Thọ cho rằng Tuyển tập kinh tế tài chính và chứng khoán – Tương thích và phát triển bắt kịp của tác giả Huy Nam là một tư liệu quý về bức tranh sống động của quá trình đổi mới ở Việt Nam; về trí tuệ, nỗ lực và tinh thần trách nhiệm của một chuyên gia, luôn trăn trở về con đường phát triển của đất nước. Các bạn trẻ có thể tìm thấy nhiều bài học quý từ một người từ nhỏ đã có tinh thần vượt khó, luôn học hỏi, chủ động nắm bắt thời cơ và đã thành công trên đường đời, cả trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội.

 

Tạp chí Nghề Báo – Mai Phương Nguyễn phỏng vấn Huy Nam -…

TRÒ CHUYỆN VỚI CỘNG TÁC VIÊN BÁO CHÍ:

Chuyên viên kinh tế Huy Nam

Trước khi gặp anh, tôi đã xem trên báo một số bài nghiên cứu và tham luận về kinh tế tài chính của anh, đã đọc một vài cuốn sách anh viết về thị trường chứng khoán. Khi đến gặp anh, tôi thấy hộp thư điện tử trong máy vi tính của anh có khá nhiều mail của bạn bè, sinh viên, những người quen và không quen gửi cho anh. Họ đã đọc những gì anh viết và bày tỏ sự đồng cảm với những ý tưởng của anh, cám ơn những thông tin mà anh đã chia sẻ với họ, một số còn “đòi” làm sư đệ hoặc đệ tử của anh…

Trên cái nền làm anh “sáng bóng” đó, tôi tò mò đặt cho anh câu hỏi về “cuộc đời và sự nghiệp của Huy Nam”. Anh cười cười: “Tôi đã lăn từ đất lăn lên…”.

1

Xuất thân là dân kinh doanh được đào tạo có bài bản tại một trường chuyên ngành trước năm 1975 ở Đà Lạt, nhưng hồi mới giải phóng nghề này không mấy đắc dụng, Huy Nam đành phải xếp lại cái sở học bấy lâu để đi học nghề rồi vào làm cho nhà máy Vinappro ở Biên Hòa. Sau gần 5 năm làm việc trực tiếp bằng “đôi tay”, với chút thành tích gây chú ý (là một chiến sĩ thi đua rất sớm của tỉnh Đồng Nai), anh “bị” lãnh đạo ở đây phát hiện nghề cũ, được đề bạt sang các nhiệm vụ khác nhau để làm việc với “cái đầu” trong 5 năm kế tiếp.

Suốt thời gian này Huy Nam vẫn không quên rèn và học để làm giàu thêm vốn hiểu biết về kinh tế tài chánh sẵn có của mình. Năm 1987, sau khi Nghị quyết Trung ương VI ra đời, anh đã quyết định trở về với niềm đam mê cũ: điều hành kinh doanh, đầu tư, đồng thời nghiên cứu bài bản và chuyên sâu những vấn đề thuộc về lĩnh vực kinh tế tài chánh, đặc biệt về thị trường chứng khoán, để phục vụ cho công việc của mình.

Từ ấy đến nay, anh đã tham gia và cộng tác với các công ty: Savico, Saigon Burotel, Tổng công ty Bến Thành, SG Postel, Descon, ICTI, Sacom, Thực phẩm Đồng Tâm, IndexX House, Tenimex, SG Orchidex, Bê tông 620 – Châu Thới, Savimex, VX Engineers…

Nếu tính riêng thời gian làm việc trực tiếp trong giai đoạn này thì anh có thêm 10 năm nữa – vị chi là 20 năm lăn lộn thực tế – trước khi được biết đến như là một “chuyên viên nghiên cứu và tư vấn về kinh tế”. Có lẽ anh nói “đã lăn từ đất lăn lên” là như thế!

2

Từ sau năm 1995, khi anh làm công việc của một “cái đầu thứ hai” cho các doanh nghiệp thì cái tên Huy Nam đã trở nên quen thuộc trong giới kinh doanh và cánh phóng viên theo dõi mảng kinh tế.

Với 5 đầu sách đã được xuất bản và hàng trăm bài nghiên cứu, tham luận về kinh tế tài chính đã đăng trên các tờ Thời báo kinh tế Sài Gòn, Saigon Times Daily, Thời báo kinh tế Việt Nam, Tuổi trẻ, Chứng khoán Việt Nam, Đầu tư chứng khoán, Thời báo ngân hàng, Đà Nẵng, Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu… Huy Nam đã trở thành “cộng tác viên tin cậy” của nhiều tờ báo kinh tế.

Khởi đầu anh viết là do gợi ý của một số phóng viên có dịp làm việc với anh, sau đó là do anh tiếc những tư liệu chắt lọc được trong quá trình thu thập và nghiên cứu thông tin cho các nơi anh nhận tư vấn, rồi sau đó nữa là do anh… thích viết!

Huy Nam vẫn nói với bạn bè, anh thật sự cảm thấy hạnh phúc khi được viết để chia sẻ những thông tin, những hiểu biết mà mình có vì lợi ích chung của xã hội. Anh cũng không ngần ngại thổ lộ:

“Khi thấy bài viết của mình được các báo sử dụng một cách trân trọng, tôi như được kích hoạt khả năng tư duy và phán đoán, càng hứng thú hơn đối với công việc nghiên cứu, và dĩ nhiên, cũng ngày càng mê viết hơn”.

Cứ thế cho đến khi ban biên tập của một số tờ báo tin tưởng “đặt hàng” thì viết báo không đơn giản chỉ là sự ngẫu hứng hay yêu thích nữa, mà nó trở thành một trong những công việc có tính chuyên nghiệp của Huy Nam.

Bởi vậy trong những cuốn sách xuất bản gần đây của anh, phần giới thiệu có thêm một gạch đầu dòng cho biết tác giả còn là một người viết báo.

Điều đáng quý nhất ở “người viết báo” Huy Nam là tuy không làm việc chính thức cho một tờ báo nào, anh vẫn ý thức rất rõ trách nhiệm đối với những tờ báo mà anh cộng tác. Thông tin anh đưa ra, dù ở dạng tư liệu cung cấp cho các nhà báo viết bài hay là một bài viết hoàn chỉnh, bao giờ cũng được phối kiểm nhiều nguồn, thận trọng đến từng câu chữ.

Có những loạt bài anh thai nghén mấy tháng trời, hết tra cứu sách báo lại lục lọi Internet, tốn không ít công sức, thời gian, đôi khi cả tiền bạc.

“Người dân rất tin tưởng báo chí, họ thường nghĩ ‘báo đã viết thì làm sao mà sai được’. Cho nên tôi nghĩ, đã đưa lên báo thì mọi thông tin đều phải đảm bảo tính chính xác”.

Có lẽ tư cách “cộng tác viên tin cậy” của Huy Nam đã được khẳng định bằng tinh thần trách nhiệm, hơn là bằng cái “mác” chuyên viên.

3

Chẳng biết Huy Nam viết báo vì nhận ra hay nhờ viết báo mà nhận ra sự hiệu quả của báo chí trong việc “nói cho người ta biết”, nhưng có một điều dễ nhận ra là Huy Nam càng hiểu được sự “lợi hại” của báo chí thì anh càng cẩn trọng hơn khi viết báo.

Hầu hết những bài báo của anh đều tâm huyết và dày công không kém những nghiên cứu dành cho kinh doanh và tư vấn của anh.

Cũng chính vì thế mà Huy Nam rất bức xúc đối với một số phóng viên có hiểu biết về chuyên ngành yếu mà còn chủ quan khi chọn lọc nguồn tin, ít chịu phối kiểm và tìm hiểu đến nơi đến chốn những thông tin đưa lên mặt báo.

“Có được những hiểu biết sâu về một chuyên ngành thì hay quá, nhưng nếu không thì các bạn có thể tham khảo chuyên viên, thậm chí nhiều chuyên viên (khi thấy thông tin của các chuyên viên có sự khác nhau). Còn để đảm bảo tính kịp thời thì tốt nhất các bạn nên chuẩn bị cho mình một nguồn tham vấn ‘nóng’ để có thể nhờ hỗ trợ khi gấp gáp”.

“Thế anh có sẵn lòng làm một nguồn tham vấn nóng như thế không?” – Tôi đùa, nhưng Huy Nam lại gật đầu rất nghiêm túc:

“Thật lòng mà nói, tôi cũng không cần các bạn phải đưa danh tính gì đâu. Cứ được chia sẻ là tôi đã thấy sung sướng rồi”.

 

 

VnExpress, Hoàng Ly Phỏng vấn Huy Nam

Người ‘phải lòng’ nghề tư vấn độc lập

https://vnexpress.net/nguoi-phai-long-nghe-tu-van-chung-khoan-doc-lap-2737324.html

Chuyên gia chứng khoán Huy Nam là một người hiếm hoi trong giới tài chính hành nghề độc lập mà không làm việc toàn thời gian tại bất cứ tổ chức nào. Đầu xuân Tân Mão, ông Nam có cuộc trao đổi với VnExpress.net.
> Chuyên gia chứng khoán ‘ngược đời’

– Ông bắt đầu với chứng khoán thế nào? Vì sao ông không làm việc chính thức trong một tổ chức tài chính nào hoặc góp vốn thành lập công ty chứng khoán khi bản thân rất am hiểu về thị trường này?

– Sau năm 1990, khi có Luật Công ty, chủ trương cổ phần hóa và những bước khởi động thị trường chứng khoán, tôi tham gia một số công ty, là người khởi lập và sáng lập ra ba đơn vị lớn (Saigon Burotel, Nuti Food, Thiên Nam). Từ năm 1995, tôi quyết định nghỉ biên chế, ra làm tư vấn độc lập cho các doanh nghiệp có toan tính phát triển đón đầu. Có thể nói tôi là một “freelance” rất sớm tại VN.

Với việc lập công ty chứng khoán, có lẽ cần có điều kiện mới thành công chứ không đơn giản. Thực ra tôi có nghĩ đến vài lần, nhưng thôi vì một số lý do, mặc dù tôi đã tập hợp và điều phối “Nhóm Đầu tư Chứng khoán Sài Gòn” đầu tiên từ cuối những năm 90. Gọi là nhóm nhưng có cả trăm anh em và sau này họ là những hạt nhân tích cực của thị trường.

Ông Huy Nam coi việc làm chuyên gia chứng khoán độc lập như một cái nghiệp…

Do vậy, như cái nghiệp, tôi lại tiếp tục làm một freelance chuyên nghiệp bên cạnh những công ty tín nhiệm mình. Tôi đã cộng tác hiệu quả với họ, và nhiều doanh nghiệp đã gặt hái được kết quả tốt, như SAM, REE, SAV, BT6… trước đây và Nam Long Group, Trường Hải Group… gần đây. Riêng việc kinh doanh chứng khoán, tôi có chủ trương và cách riêng.

– Sau nhiều năm gắn bó với chứng khoán, điều gì khiến ông tâm đắc nhất khi quyết định theo đuổi nghề chuyên gia tư vấn độc lập?

– Đó là sự thử thách không ngừng và việc làm sao có thể giữ được mình. Mặt khác, nhờ tư cách độc lập, tôi có thể có các kiến giải thẳng thắn, khách quan, vì tôi làm việc với chính cái đầu của mình chứ không qua tay người khác. Một số trường hợp có thể ý kiến của tôi không được tiếp nhận ngay, nhưng ít lâu sau lại được đánh giá cao, nhất là với cách làm qui ước hoặc nội dung có tính nền tảng. Nhiều nội dung đóng góp của tôi đã được đưa vào các văn bản luật, như Luật Doanh Nghiệp.

Công việc cũng buộc tôi luôn sáng tạo để có các giải pháp hữu ích chuyển giao cho doanh nghiệp mà tôi tư vấn/cố vấn. Có cái đã được doanh nghiệp cả nước sử dụng nhiều năm nay như mẫu “Chứng nhận cổ đông” sử dụng cho các doanh nghiệp tôi tư vấn trước năm 2000 và được công bố rộng rãi năm 2001

– Anh có thể kể một kỷ niệm vui với nghề chuyên gia tư vấn độc lập của mình?

– Cách đây gần sáu năm, có anh chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc một đơn vị, tham gia với tư cách sáng lập vào quá trình thành lập một công ty khác do tôi tư vấn. Hôm thông qua điều lệ, do đến trễ và chưa đọc kỹ, anh ấy đã có những lời lẽ khá căng với tôi về một nội dung liên quan đến cổ đông sáng lập. Lúc đó tôi và anh chưa biết nhau. Biết anh nóng vội nên tôi cố kiềm chế. May là ngay sau đó, các anh sáng lập khác đã giải thích lại và anh hiểu ra…

Bẵng đi vài tháng sau, thật bất ngờ, chính vị chủ tịch kiêm tổng giám đốc đó đã gọi điện một cách trọng thị mời tôi về làm cố vấn cho công ty anh. Tính cách của anh như vậy làm tôi nể phục nên không thể không nhận lời. Sau đó, tôi giúp anh hoạch định hướng đi chiến lược, dựng lộ trình và cùng anh và bộ máy công ty tiến hành các bước cấu trúc lại công ty để sẵn sàng đón nhà đầu tư và phát triển lớn.

Kết quả là, đến giữa năm 2008, khi cả nền kinh tế bế tắc thanh khoản, hàng loạt doanh nghiệp lâm vào tình trạng khát vốn, thì công ty của anh được hai đối tác uy tín nước ngoài tham gia góp vốn 30 triệu USD. Tôi chắc anh rất vui nên vào một buổi chiều nọ, sau giờ làm việc, anh mời tôi vào phòng và nói “hiệu quả quá, tốt quá” rồi bắt tay cảm ơn tôi. Chút cảm xúc, tôi đáp lại “chỉ là phước chủ may thầy thôi anh”.

Ông Huy Nam: “Chứng khoán chỉ là một phần trong công việc của tôi”. ANVCC

– Nhiều năm làm nghề tư vấn chứng khoán độc lập mà không gắn với bất kỳ tổ chức nào, ông có bao giờ bị người khác nói rằng mình hơi khác người không?

– Chưa bao giờ. Thực ra, chứng khoán chỉ là một mảng việc của tôi. Nó là một phần hoạt động nghiên cứu và làm việc của tôi trong lĩnh vực kinh tế tài chính. Gọi chuyên gia độc lập chỉ là đặc điểm để phân biệt về trách nhiệm, tư cách xử lý tình huống khách quan, hay tình trạng không liên lập khi hành sự đối với một số hoạt động nào đó thôi, kể cả hoạt động của các doanh nghiệp.

Còn lại khi làm, công việc của tôi thường là liên lập với bộ máy của doanh nghiệp hay tổ chức. Vả lại, người ta gọi tôi là “chuyên gia chứng khoán” có lẽ chỉ là cách nhìn nhận các hoạt động nổi bật của tôi trong ngành chứng khoán.

– Có rất nhiều người đã rời bỏ ngành chứng khoán khi thị trường khủng hoảng nhưng ông thì vẫn trụ lại. Vào những thời điểm đó, ông làm gì?

– Tôi tập trung công việc khác, phân khúc khác, dành nhiều thời gian cho mảng doanh nghiệp, giảng dạy, nghiên cứu viết sách, thực hiện các dự án riêng. Cũng nhờ vậy mà cuốn sách thứ mười của tôi “Tài chính chứng khoán qua Nhịp cầu Anh Việt” mới ra đời, do Lạc Việt và NXB TPHCM ấn hành cuối năm 2010. Những lúc rỗi việc đó tôi cũng tranh thủ đi chơi với gia đình, thăm bạn bè, đi nước ngoài…

– Là một chuyên gia tư vấn độc lập, điều gì khiến ông tâm tư nhất sau nhiều năm gắn bó với thị trường chứng khoán?

– Là người đã đi cùng với thị trường ngay từ thời gian chuẩn bị, tôi nếm trải buồn vui theo từng thăng trầm của thị trường. Thế nhưng biết nhiều, khổ nhiếu.

Tôi thấy xót trước những cách nghĩ, cách hành xử còn khá “lệ làng” dễ làm nghèo thị trường, thấy sốt ruột trước thực trạng chậm chạp so với yêu cầu cải thiện và xây dựng một thị trường như đáng lẽ đã có, để bảo vệ nhà đầu tư và môi trường đầu tư…

Trong nhiều trường hợp, người làm việc độc lập lại như người ngoài, và đây là một tình tự khác. Đó là ưu tư của người biết rõ nhưng bị đứng ngoài, bức xúc nhưng không thể tham gia sâu… Dù sao, với tâm huyết của người đã và đang đồng hành, tôi tin và mong thị trường sẽ nhanh được cải thiện, để chứng khoán không chỉ là kênh dẫn vốn mà cần thiết sẽ là môi trường đầu tư sinh lợi của đại chúng được bảo hiểm bởi niềm tin.

Hoàng Ly

FBNC phỏng vấn Huy Nam ‘Tỷ phú mới nổi tại Việt Nam’

Đài truyến hình FBNC phỏng vấn Huy Nam, 2015 – Phân tích và bình luận nhân dịp công bố các tỷ phú đô-la mới nổi tại Việt Nam…

Xem clip: