Tư thế hội nhập

Tôi ở đâu trước vận hội lớn?

Tôi ở đâu trước vận hội lớn?

Từ chỗ không mấy quan tâm, nhiều doanh nghiệp đã có vẻ lo ngại trước việc ‘biển sẽ ở ngay dưới chân mình’ khi nền kinh tế hội nhập toàn cầu. Từ chỗ chỉ quen và có thể giỏi làm ăn trên sân nhà, nay đi đâu cũng nghe người ta nói vào WTO là ‘ra biển lớn’, không ít doanh nghiệp băn khoăn…

Tôi nhỏ thế này thì sức đâu ra biển lớn? Mà đâu chỉ mình tôi, đất nước có cả mấy trăm ngàn anh nhỏ như tôi. Vậy thì chỗ của chúng tôi đâu? Việc cổ xúy ra biển lớn hoặc cho rằng dù không muốn thì biển cũng sẽ ngay dưới chân mình, nghĩa là chỉ hình dung bối cảnh đâu cũng biển với áp lực bị buộc phải ra biển, có thể gây ngộ nhận. Việc cổ động hay ‘lên dây cót’ quá độ có thể làm cho doanh nghiệp căng thẳng, mất tinh thần, trở nên bi quan, lúng túng. Có phải cứ hội nhập thì biển sẽ tràn vô nhà? Có nhất thiết phải đồng hành ‘ra biển lớn’? Sẽ ra thế nào?… Không nên nghĩ đơn giản. Để hoá giải cái lo và tìm sự lạc quan, ta sẽ tiếp cận vấn đề theo cách ít sóng gió hơn.

Thật ra, bên cạnh biển lớn vẫn còn đó cái ‘ao nhà’ (hay sân nhà). Cái ao nhà đó (hoạt động kinh tế và thị trường trong nước) nay đã thông ra biển. Đây là quá trình thông thương chứ không phải trộn lẫn. Nói khác đi, nền kinh tế chỉ hội nhập chứ không bị đồng hoá. Vậy thì đừng vội chuyện công dân toàn cầu! Chỗ này cần chút triết lý hội nhập. Măt khác, thông điệp ‘ra biển lớn’ nên hiểu là vươn ra làm ăn với 149 nền kinh tế khác chứ không hẳn là làm ăn lớn. Tinh thần là hiểu biết, kinh tế và thực tế, thay vì chỉ có ‘lửa’. Không nên có suy nghĩ cực đoan hay trực diện kiểu ‘một mất một còn’, vì điều này dễ cho tâm lý bị ức chế không cần thiết. Tại sao? Vì trong hoạt động kinh tế, kể cả hoạt động kinh doanh tiến công, không chỉ có ‘chiến trường’ mà cần thiết còn là hợp tác và chia sẻ, là biết cách chơi để cùng thắng (triết lý win-win). Hợp tác và chia sẻ lại là con đường rộng mở cho doanh nghiệp trong nước ngay tại sân nhà trong quá trình hội nhập. Ta hãy xem điều gì sẽ là tốt đẹp quanh hướng đi hiền hoà này.

Hiểu theo nghĩa tương đối và từ góc nhìn trong nước, việc gia nhập WTO sẽ khơi thông và tạo ra sự giao thương hay các luồng kinh tế đối lưu. Người ta gọi chung bối cảnh làm ăn có qua có lại này là kinh tế mở. Kinh tế mở thì có ra có vào…

Cho dù hướng ra là hướng chính và được khuyến khích, lợi thế ban đầu ở hướng này chủ yếu có lẽ chỉ là hoạt động xuất khẩu hàng hoá. Về các hoạt động khác, dựa vào kinh nghiệm các nước đi trước và thực lực Việt Nam, dự đoán trong vòng năm mười năm đầu, hoạt động ‘tư bản hướng ra’ (outflow – đầu tư ra nước ngoài nói chung) sẽ không đáng kể. Đã vậy, hoạt động xuất khẩu hàng hoá cũng chỉ là phần nổi của một chuỗi hoạt động sản xuất từ các cứ điểm nội địa, trong đó không ít (nếu không muốn nói là phần quan trọng) sẽ thuộc về các ‘doanh nghiệp tư bản du nhập’, tức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Do vậy, hoạt động sản xuất – kinh doanh – dịch vụ tại chỗ (xin nhấn mạnh là sản xuất – kinh doanh – dịch vụ) hứa hẹn sẽ phong phú và đa dạng. Đại cuộc sẽ bắt đầu từ đây.

Không đợi lộ trình cắt giảm thuế quan hàng nhập khẩu và các cam kết mở cửa có hiệu lực, bản thân môi trường thông thoáng và sự đảm bảo giao thương theo tiêu chí quốc tế cũng có thể làm cho chuyển động hội nhập tại thị trường trong nước diễn ra sớm hơn. Trong thực tế việc này đã diễn ra ngay từ năm 2006, rõ nhất là từ Quí 4-2006, nghĩa là trước cả thời hiệu gia nhập chính thức (11-01-2007). Có thể xem đây như khúc dạo đầu hưởng ứng, là bước khởi động có tính chiến lược của thương nhân nước ngoài, nhất là các công ty đa quốc gia. Nhờ vậy, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài năm 2006 đã tăng gần gấp đôi, vượt ngưỡng 10tỉ USD. Hằng ngàn tỉ đồng đổ vào thị trường chứng khoán các phiên cuối năm là điều mà đầu năm 2006 không ai nghĩ tới. Dấu hiệu giảm giá của một số mặt hàng nhập khẩu và việc sớm cắt giảm thuế ô-tô xuống 10% của Bộ Tài Chính (để thao dượt) là các ghi nhận khác.

Hoạt động kinh tế trong nước nóng lên nghĩa là cơ hội sẽ mở ra nhiều. Thay vì miên man trước biển, doanh nghiệp (bất kể là lớn hay nhỏ) có thể toan tính dành phần bánh cho mình ngay tại ao nhà. Thách thức có khi là đây… Về vi mô, đó là khả năng nắm bắt cơ hội và biết cách định vị lại thế đứng đúng nhất của mỗi doanh nghiệp. Về vĩ mô, là làm sao tiếp nhận và hấp thu tốt nhất các làn sóng giao thương tăng nhanh. Thế nhưng, mối lo cạnh tranh, ngại bị thua thiệt trên sân nhà, lại cũng đồng hành với cơn náo nức. Bị cạnh tranh là bình thường và thua thiệt là điều khó tránh. Hàng hoá tiêu dùng là một lẽ, lãnh vực dịch vụ cũng sẽ đáng ngại không kém. Nền kinh tế lại không phải chỉ mở với bên ngoài mà còn mở ngay trong nước, giữa các ‘thành phần kinh tế’. Nếu điều này có ý nghĩa với khu vực tư thì sẽ chẳng dễ dàng với khu vực quốc doanh. Sự cạnh tranh, do vậy, không chỉ diễn ra với bên nước ngoài mà còn giữa trong nước với nhau. Nhưng, nói theo triết lý kinh tế thì đây là sự cần thiết để nền kinh tế có “những cái chết sáng tạo”, để có một toàn cục phát triển vững bền và thuyết phục.

Chỉ riêng lợi ích đem lại từ qui mô đầu tư nước ngoài tăng lên thôi cũng sẽ rất lớn. Việc làm cho người lao động là một lẽ, cơ hội đem lại cho doanh nghiệp trong nước sẽ đáng nói hơn, và ngành nào cũng có phần: Xây dựng, vận chuyển, sản xuất phụ trợ, cung ứng, phân phối, ngân hàng, thông tin, báo chí… Suy cho cùng thì phần họ tạo ra và để lại trong nước sẽ lớn hơn phần họ đem về (thu hồi vốn và lợi nhuận). Lần nữa, thuyết lý ‘win-win’ cũng đúng trong bối cảnh vĩ mô này. Việc du nhập thiết bị kỹ thuật, công nghệ mới, kinh nghiệm tổ chức quản trị hiện đại, v.v. còn đem lại lợi đơn lợi kép cho kinh tế trong nước: để giải cái ngặt lạc hậu, cái nghèo trang bị, để tự nâng mình lên. Khả năng làm chủ kỹ thuật công nghệ (như xây dựng cầu dây văng, nhà cao tầng, khai thác dầu khí, viễn thông, mổ tim…) trong thời gian qua là những ví dụ.

Tưởng vậy là ổn, nhưng không. Giải được bài toán kinh tế thì mặc cảm ‘làm thuê ngay trên quê hương mình’ có thể lại trỗi dậy. Tuy tình tự sĩ diện là bình thường, hay có thể nói là tốt, nhưng cần đặt đúng chỗ và đúng lúc. Nói ngắn gọn, trong hoạt động kinh tế kinh doanh, khái niệm làm thuê hay làm chủ nên được hiểu tương đối, chỉ là sự phân vai. Sĩ diện, nhất là sĩ diện kinh tế, xin hãy đợi đấy… Tốt nhất cho đến khi ta đã đủ lực, đã mạnh lên , giàu lên. Có thể tham khảo kinh nghiệm Nhật Bản, Hàn Quốc, và nhiều nước khác. Rất nhiều doanh nghiệp tên tuổi của họ đã thoát lên sau quá trình làm phụ, làm thuê, sau khi đã no đủ cả về vật chất lẫn trí tuệ. Vậy thì vấn đề không phải là làm chủ hay làm thuê. Vấn đề là đừng để mất các cơ hội làm thuê, không để chủ ta hay chủ tây lại phải đi thuê nước ngoài, là tôi ông chủ biết làm thuê tốt nhất… Vấn đề là khiêm tốn để vững ‘mô phỏng’, bền sáng tạo, biết cách thoát lên tìm cái riêng. Đó là tư thế tiến công, là cách đem lại phú cường cho nước và nhà tôi.

Cánh cửa 2007 đang mở ra thời kỳ lạc quan mới cho kinh tế Việt Nam. Trước vận hội lớn và triển vọng ẩn tàng ấy, việc xác định ‘tôi ở đâu’ trở nên không dễ. Yêu cầu tái định vị hoạt động doanh nghiệp lại có tính quyết định và cần thực tế hơn. Điều này cần đến những cái đầu tốt và bộ máy công suất cao.

Huy Nam, CV kinh tế và chứng khoán

(Thời báo Kinh tế Sàigòn Xuân Đinh Hợi – 2007)

 

Tư thế hội nhập

Hội Nhập từ Tư Thế ’Nhập Hội’

Một cách tự nhiên, không ít chúng ta vẫn có thói quen nghĩ rằng hội nhập là bắt đầu từ bên ngoài, từ các thúc ép đặt ra trong quá trình bình thường hoá hay thiết lập các mối quan hệ, đặc biệt là về giao thương. Suy nghĩ như vậy không có gì sai nhưng chưa đủ và không sâu…

Chỗ chưa đủ và không sâu ở đây tuy khó thấy lại có thể làm giảm tư thế chủ động trong hội nhập. Nếu ta xem đây là phần nền tảng tiếp nhận và chuyển tải hội nhập, thì một sự thiếu sót có thể sẽ là bất lợi tiềm ẩn. Để giải thích ý kiến này, cần thấy nhu cầu hội nhập trước tiên xuất phát từ chúng ta, từ mong muốn bên trong do ta chọn và quyết định. Sự lựa chọn và quyết định ấy đặt ra lộ trình, và cũng chính chúng ta đã cân nhắc gút lại lộ trình ấy. Nói chung, đây là nhu cầu tự thân và có sự chủ động. Thế nhưng, quá trình chuẩn bị lại thường không diễn ra tương hợp như vậy. Cả nền kinh tế (đúng hơn cả đất nước) cần hội nhập, chứ không riêng bộ phận nào, nhưng thực tế nếu Chính phủ và các doanh nghiệp trực tiếp bị tác động hay có hưởng lợi đã phải chạy thì phần lớn còn lại có vẻ ‘không vội’. Do vậy từ tư thế chủ động, dần dần có thể ta bị đẩy sang thế bị động. Nói khác đi, từ ước vọng thôi thúc bên trong, việc chuẩn bị chưa đủ và không sâu có thể đẩy ta sang thế bị thúc ép từ bên ngoài. Cảm nhận hội nhập do sức ép từ bên ngoài cứ thế đậm dần theo tiếng đếm lùi, mà nếu chậm được vận động tích cực và sâu rộng thì khả năng bất lợi sẽ như điều hẹn trước.

Hội nhập không thuần là vấn đề của doanh nghiệp hay chỉ liên quan đến các khuôn khổ đã cam kết. Vì như vậy sẽ khó tránh tâm lý ‘cần tới đâu làm tới đó’, sẽ là ít hơn chứ không đủ, khó mong sẽ nhiều hơn… Hội nhập là để có sức mạnh chứ không dừng lại ở việc được ‘nhập hội’. Yêu cầu hội nhập có áp lực như ra biển lớn, vì kể từ sau cuộc cách mạng thông tin (thập kỷ ’70) các ranh giới hữu hình theo ước lệ mặc nhiên đã nhạt dần. Thế giới bước sang thời kỳ liên lập mới với nhiều khái niệm được nhận dạng lại, đặc biệt là tư duy phát triển. Sự lệ thuộc nhau về kinh tế đang ở mức cao, qui mô toàn cầu, và việc có được thế đứng trong sân chơi ấy chính là cơ hôi phát triển của một quốc gia. Hội nhập trong bối cảnh như vậy cần có sự chuyển động toàn diện, là sự kiếm tìm tư thế đối tác lâu dài chứ không chỉ dừng lại ở hoạt động thương mại hay giao dịch. Việc phát triển đất nước lại không chỉ là trăn trở thoát nghèo mà cần thóat lên bắt kịp, cần có độ bền… Mục đích dài hơi này đòi hỏi những nỗ lực đồng bộ, triệt để, bền bĩ, liên tục và dài hạn. Muốn vậy, tinh thần hội nhập cần được ‘đồng đội’ hơn, cần kéo sâu vào các nền tảng kinh tế xã hội. Hội nhập bắt đầu từ bên trong như vậy có khả năng tạo ra nguồn lực phát triển, thúc đẩy đổi mới tốt hơn, để có cách làm hợp lý và chuyên nghiệp. Bên cạnh các ràng buộc ‘cứng’ ta phải tuân thủ, quá trình ấy đồng thời có thể giúp ta xới lên hiệu chỉnh, đặt lại vấn đề, xác định việc cần làm, cần ưu tiên… để có bước chắc hơn theo ước lệ phổ biến và kinh nghiệm đã thành công. Xin nêu ra đây ít nội dung tản mạn để cùng suy ngẫm.

Sự quanh quẩn ‘ai và ai’ (nói chung) trong nội bộ nước nhà đã và sẽ còn ảnh hưởng đến khả năng toàn dụng cho phát triển. Chỉ riêng khái niệm thành phần kinh tế đã mặc nhiên tạo ra sự phân biệt đối xử không cần thiết giữa ta với mình. Vì rằng, trong lúc ‘tây’ họ đòi ‘ta’ bình đẳng, đòi đối xử quốc gia, thì trong nội bộ ta lại chia ra ‘nhiều ta’ và có luật riêng cho từng khu vực. Tinh thần Luật Doanh Nghiệp ‘thống nhất’ (được QH thông qua vào kỳ họp cuối năm 2005) đang có nỗ lực xoá điều này để hội nhập thì thực tế nội bộ có vẻ chưa sẵn sàng. Nếu bên nước ngoài họ muốn có một sân chơi chung, thì quá trình thảo luận ở nội bộ ta lại vẫn muốn có ba ‘góc sân’ riêng (DNNN kiến nghị chương riêng, hợp tác xã muốn giữ luật riêng). Qua nghiên cứu và trực tiếp đóng góp vào quá trình xây dựng luật này, tôi có cảm nhận rằng nếu ta không xoá vách ngăn thành phần giữa các chủ thể đầu tư trong nước thì ‘nội lực’ nước nhà có thể sẽ khó mạnh. Tại sao? Vì nội lực như vậy không phải là ‘một’ mà là các ‘một phần ba’ hay nhỏ hơn! Khả năng ‘chụm lại’ ở đây được chờ đợi sẽ kém, nên dễ là bất lợi. Ta nỗ lực hội nhập với bên ngoài nhưng trong nhà với nhau có vẻ chưa hội nhập…

Bên trong, chúng ta cũng chưa xác định được ai là đội quân chủ lực cho mặt trận kinh tế thị trường. Thực tế cho thấy, nếu DNNN được phong hàm ‘chủ đạo’ thì, ngoài vấn đề hiệu quả ít thuyết phục, đến nay DNNN vẫn cứ loay hoay tìm mô hình và chưa rõ “chủ’ là ai. (Đây là vấn đề được nhiều nhà làm luật lưu tâm, bởi việc gọi chủ là ‘toàn dân’ thì chẳng khác không chủ). Nhà nước chủ quản không ít lần lại lúng túng chuyện vai trò, lắm khi còn áy náy trước các thực tế lòng vòng, kịch tính… Ví dụ, đất là của toàn dân, DNNN thuộc quyền Nhà nước, nhưng khi Nhà nước (và nhân dân) cần thu hồi đất để lo chuyện quốc kế dân sinh thì chỗ đòi (đền bù) căng nhất có thể là DNNN… Trong lúc đó, khu vực kinh tế tư (theo lẽ thường là đội ngũ chủ lực của kinh tế thị trường) thì lại chưa được chăm lo và thao dượt đúng mực để chuẩn bị cho đường dài thử thách. Ngay như cách gọi về khu vực này cũng còn quanh co: là ngoài quốc doanh, dân doanh, dân lập, chứ chưa khẳng định là tư.

Nói đến yêu cầu hội nhập trong bối cảnh doanh nghiệp không thể không đề cập công ty cổ phần và thị trường chứng khoán (TTCK). Dù không mới, loại hình công ty cổ phần vẫn là sản phẩm du nhập. Chính định chế doanh nghiệp này là nguồn cung hàng chủ lực (nếu không muốn nói là yếu tố nền) cho hoạt động của TTCK. Thế nhưng việc tổ chức và thực tế vận hành công ty cổ phần ở ta thì lại chưa bắt nhịp thị trường, còn cần phải cải thiện nhiều hơn nữa thì mới có thể thu ngắn khoảng cách chưa hội nhập. Hầu hết công ty, kể cả nhiều công ty niêm yết, vẫn còn thấp thoáng cung cách tổ chức và quản lý ‘quốc doanh’, chưa thoát được não trạng điều hành nội bộ… Công ty nội bộ là loại có áo ‘cổ phần’ nhưng xác thì ‘TNHH’, người ngoài sẽ khó mà ‘nhìn’ vào được (yêu cầu minh bạch: transparency). Trong khi đó TTCK của ta hoạt động đã năm năm và ngay từ đầu đã cho nhà đầu tư nước ngoài vào làm ăn. Như vậy cánh cửa đầu tư tài chánh đã mở được nửa thập kỷ và điều này rất cần yếu tố minh bạch. Sẽ có người bảo rằng ‘thì đã có sao, người ta (nước ngoài) vẫn tranh mua đấy chứ’. Vâng, có thể đúng vậy. Nhưng không khó nhận ra cách đầu tư ở đây còn thiên về mạo hiểm, theo triết lý “high risk high return” (có gan làm giàu) mà nhiều người trong họ đã bộc bạch. Tình trạng này chỉ có tính giai đoạn và chắc sẽ không dài. Vã lại, lượng đầu tư thực hiện vào buổi giao thời này cũng không nhiều và hiệu quả thực tế chưa có gì là hấp dẫn. Thật ra, việc cạnh tranh thu hút vốn hay nhu cầu huy động vốn đại chúng của các doanh nghiệp ở ta chưa có tính thị trường, nên các yêu cầu đặt ra cho doanh nghiệp như tổ chức quản trị chuyên nghiệp, lợi thế cạnh tranh, tiềm lực phát triển, tài chánh lành mạnh… chưa được chú trọng. Tới đây, khi thị trường đã như ‘chiến trường’ thì các yêu cầu này sẽ là các tiêu chí đánh giá chủ yếu trong môi trường đầu tư tài chánh. Lúc đó, nếu thiếu sự chú trọng và đáp ứng, các công ty cổ phần ở ta sẽ khó mà huy động được vốn đại chúng nói chung, chứ chẳng riêng gì các nhà đầu tư nước ngoài.

Ta lại đang nghĩ đến liên kết giao dịch (chéo), đến việc niêm yết chứng khoán ra nước ngoài… Mới nghe thì hồ hởi nhưng xem kỹ lại sẽ là không đơn giản. Việc liên kết và/hoặc kết nối giao dịch nếu không cần ‘môn đăng hộ đối’ thì cũng rất cần các yếu tố tương thích và môi trường đồng bộ. Điều này đặt ra hằng loạt yêu cầu phải chuẩn bị bổ sung hay điều chỉnh dọn đường. Trung Tâm Giao Dịch (STC) hay ngành chứng khoán (SSC) cần dọn lại cho ‘cùng hệ’ đã đành, nhiều ngành khác cũng sẽ phải hành sự nhịp nhàng thì việc ‘kết nối’ mới mong đạt được cái có qua có lại. Kinh nghiệm cho thấy sự phối hợp liên ngành như vậy ở ta lại không thể một sớm một chiều. Việc niêm yết ra nước ngoài cũng sẽ đụng tới nhiều vấn đề ‘tiêu chuẩn’ tương tự, vì đây chẳng khác ta xuất khẩu chứng khoán. Bán được hàng tiêu dùng bình thường cho ‘nhà giàu’ nước ngoài đã khó (nào ISO, an toàn, vệ sinh, lao động…) huống hồ là bán niềm tin! Công ty muốn niêm yết phải thế nào, cần gì… có lẽ ta chưa hình dung hết. Nhiều người cứ nghĩ niêm yết cổ phiếu ra ngoài chỉ đơn giản là làm thủ tục, thậm chí còn nhầm đấy là thủ tục với SSC. Chứ về cơ chế mua bán ra sao, lấy gì có mua có bán, niêm yết hay phát hành IPO hoặc DRs… thì hầu như chưa được nghĩ sâu. Tôi cho rằng dù bị nhiều áp lực, ý kiến của bà Mai Kiều Liên (Vinamilk) là đúng khi bà cho rằng việc niêm yết sẽ cần bắt đầu từ trong nước trước để “học hỏi và tích lũy kinh nghiệm”. Vâng, xem kỹ lại sẽ thấy cả vấn đề kết nối thị trường lẫn việc niêm yết ra nước ngoài chỉ có thể tiến hành trơn tru khi nào sự chuẩn bị và tập dượt trong nước đã hườm hườm. Là bởi, nếu có thể khái niệm đơn giản hội nhập là nhập hội thì việc nhập hội ở đây sẽ rất cần cần tư thế sẵn sàng.

Một vấn đề khác từ bên trong tưởng chừng không liên quan đến lộ trình hội nhập nhưng lại có thể sẽ gây bất lợi khi hội nhập là vấn đề lương bổng. Vấn đề lớn (quá lớn) này tồn tại thâm niên như một khuyết tật bám sâu đến mức khó ‘đại phẩu’. Do mảng nhân sự chi phối bởi thang lương nhà nước (tính luôn cả DNNN) là quá lớn và đều khắp, nên gánh nặng lương lâu nay trở thành chuyện nan giải. Tuy vậy, điều bất cập cần bàn là thực chất về cách trả và vấn đề ngoài lương. Theo đó, một bộ phận không nhỏ các vị trí và chức danh (thường là cấp trưởng) đã thực sự (hay có điều kiện) được ưu đãi hơn về nhiều khoản quyền lợi vượt xa lương, nhiều trường hợp bình thường khác thì phải ‘chạy’ bằng nhiều cách để kiếm sống (trước đây thì ‘tăng gia’, nay là làm thêm, đi dạy, v.v.) – Phần phụ (hay không chính) lại thường cao hơn nhiều lần phần chính và ai chỉ có phần chính ắt sẽ khó khăn. Điều này đã thành nếp và tạo ra một thực tế chênh lệch rất lớn giữa những người hưởng lương nhà nước với nhau. Bối cảnh như vậy tự nó đã là mâu thuẫn! Từ đó mà có chuyện giữ kẽ hình thức, xuề xoà, là cái gì khác chứ không phải lương… Đây là một nguyên nhân làm cho môi trường kém minh bạch, kỷ cương hạn chế. Thực tế ấy lại nằm xen trong một toàn cảnh vận động kinh tế thị trường, thế là thị trường đã không ngại nhảy vô điều chỉnh! Hậu quả là không giữ được người, khâu nhân lực (khâu cán bộ) thường bất ổn. Một vị lãnh đạo ngân hàng thương mại quốc doanh hàng đầu tại TPHCM đã chua chát rằng “chỗ tôi là cái lò đào tạo nhân lực cho các ngân hàng” (ý nói mất người!). Nhìn lên cao hơn, ai đó cũng đã nói ‘ở nước ngoài người ta không hiểu lương của bộ trưởng xứ mình chỉ trên dưới ba triệu thì làm sao sống?’. Nay thì trong nước bức xúc còn hơn vậy, diễn đàn Quốc Hội cũng đã từng nóng lên… Có vẻ như cái khó ở đây là do khúc hậu của việc ta xoá bao cấp chưa triệt để, là lương nhưng vẫn còn thấp thoáng tem phiếu… Vấn đề lương đối với khâu nhân sự (hay nguồn nhân lực) cũng có thể ví như vấn đề dưỡng chất với cơ thể, cho nên mức độ chăm lo sẽ rất quyết định. Vấn đề hệ trọng đến mức, đây đang được xem là nguyên nhân gây ảnh hưởng, làm xấu đi, hay thậm chí cản trở, quá trình phát triển của nhiều lãnh vực quốc kế dân sinh như y tế, giáo dục và nhiều lãnh vực kinh tế xã hội khác. Nói chung, chừng nào ‘khâu bao tử’ này chưa yên thì tư thế đội ngũ sẽ khó vững lên để sẵn sàng ‘nhập hội’.

Tới đây ta có thể thấy hội nhập rất cần động cơ tự hành chứ không phải chỉ có đầu kéo tác động. Bối cảnh hội nhập càng sâu sẽ còn cho khả năng chịu đựng tốt hơn (yếu tố bền vững) trước những cú sốc có tính đợt sóng do sự tương tác từ hội nhập gây nên. Sự vận động toàn diện trong quá trình hội nhập như vậy giúp tăng cường sức mạnh cho tư thế quốc gia. Hội nhập theo ý nghĩa tiến công này không làm mất cái riêng, ngược lại khả năng có được cái riêng mới tốt hơn trên nền cái riêng sẵn có sẽ dễ là hiện thực. Có thể gọi đây là quá trình phát triển (hay phát huy) những giá trị riêng. Nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Tân Gia Ba… nhờ hội nhập như vậy đã thủ đắc về mình thêm được nhiều giá trị rất riêng.

Huy Nam

CV kinh tế và chứng khoán, 5-2005

(Tạp chí Chứng khoán VN, 7-2005)

 

Seaprodex

Từ sự cố Seaprodex:
Có phải con hư tại mẹ?

Sáu tháng đầu 2004, thương trường Việt Nam lại chứng kiến thêm một Seaprodex “nổi” lên như ‘con tàu sắp đắm’, ‘thương hiệu sắp tàn’, một ‘đại gia chìm trong biển nợ’… với các tình tiết mà không cần nói ra thì chắc ai cũng đã biết: Cục bộ, vây cánh, mất đòan kết, lạm dụng biển lận, vô nguyên tắc, thậm chí là ‘lũng đọan kinh hòang’. Trước những hiện tượng không còn lạ này, có lẽ chúng ta ít nhiều ai cũng đã nghĩ đến cái gốc của vấn đề. Vậy thì vì đâu nên nỗi?

Nếu không chịu khó ngược dòng mà cho rằng ‘do ta, tại ta’ ngay ắt sẽ vội vàng. Seaprodex sáng chói từ cuối thập niên ’80 và đầu những năm ’90 là điều không ai chối cãi. Có điều, vào thời hòang kim làm nên tên tuổi Seaprodex ấy nền kinh tế có bối cảnh quốc doanh độc tôn, không có cạnh tranh. Tôi cố ý tránh dùng từ ‘bao cấp’ ở đây vì nói như vậy e không chuẩn. Bởi thật ra đã có giai đọan rất nhiều DNNN ‘có thời’, có ‘chỗ tốt’ và một mình một chợ (như Seaprodex) chẳng cần ai ‘bao cấp’ (chỉ cần chức năng) họ vẫn gặt hái ngon lành và sống vượt xa những anh ‘chủ đạo’ khác kém may mắn (ví dụ các doanh nghiệp ngành công nghiệp nặng). Đến khỏang giữa thập niên ’90, sau một thời gian mở cửa thị trường, sự xuất hiện của các anh tài mới làm cho thế và lực nhiều DNNN lung lay. Nếu nói đây là thời cơ đối với các khu vực doanh nghiệp mới (khu vực tư và đầu tư nước ngòai), thì cũng là lúc các DNNN phải đứng trước thách thức tồn tại và mới thấm bài ‘kinh doanh’ là gì! Ta thấy trong giai đọan này rất nhiều công ty có đuôi im-ex từ chỗ hụt hẫng ‘tư thế thương gia’ đã lần lượt nếm trải khó khăn: Doanh số và hiệu quả lợi nhuận đều suy giảm, nhiều người một thời từng tự hào với những ‘chỗ ngồi’ đắt tiền nay tìm cách ra đi… Seaprodex (cũ) không thể là ngọai lệ.

Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải sớm cải cách DNNN. Nhưng cách làm của ta trước đây vừa thừa thận trọng vừa thiếu nghiên cứu sâu. Thay vì mạnh dạn vận dụng năng lượng thị trường, cải cách và đổi mới tương thích, ta lại đơn giản gom đầu mối để đối phó, với mong muốn tiếp tục duy trì ‘quốc doanh chủ đạo’. Tổng công ty Thủy sản Việt Nam (Seaprodex) ra đời vào năm 1995 trong hòan cảnh ấy. Thêm vào đó là sự nuối tiếc hay ‘sợ mất’. Thế nên vai trò “Bộ kinh doanh”, nghĩa này đậm hơn ‘Bộ chủ quản’, không có gì gọi là đổi mới. Trong bối cảnh đó, tuy có một số DNNN bản lĩnh (quản lý tốt) tỏ ra trăn trở khi được ‘cộng’ vào tổng công ty, nhiều doanh nghiệp khác ‘hết thời’, làm ăn kém hay thua lỗ, lại như được cứu tinh: Lúc này ‘bao cấp’ mới thật sự có ý nghĩa. Sự bao cấp nói chung, cụ thề là trường hợp Seaprodex, có vẻ đã lạm sang tệ ‘dấm dúi’, lập lờ hay dung túng. ‘Trát’ đòi ngày 8-6-2004 của Bộ Tài Chánh với lời lẽ răn đe cứng rắn buộc Seaprodex phải nộp ngay số tiền 31 tỉ đồng về kho bạc Nhà nước là ví dụ. Ngòai ra, sự dan díu phức tạp, đan xen quyền lợi cục bộ… là thực tế chao mờ đầy tế nhị! Tình trạng níu kéo kém lành mạnh này cứ thế phát triển ăn sâu, nguy hại đến độ có thể làm kiệt sức hay thậm chí hủy họai doanh nghiệp, chẳng riêng tại Seaprodex.

Về mặt thực thể, việc ‘lên đời’ Seaprodex là thể hiện của phép cộng 17+2+11=31. Tại sao lại 31? Là do có sự sinh sản ‘vô tính’ pháp nhân thứ 31 mang hàm ‘tổng công ty’ (Tcty). Khác với bản chất tự nhiên hay tập quán tổ chức doanh nghiệp khoa học đã phổ biến, theo đó ‘con’ luôn được sinh ra sau, thì ở đây ‘mẹ’ lại có sau! Tại Seaprodex (cũng như các anh khổng lồ khác) việc sắp xếp DNNN theo hình thức tổng công ty hay ‘mẹ-con’ ở ta đã theo con đường ngược như vậy, nên khó tránh tình trạng hữu danh vô thực. Phải chăng ta cũng muốn có các Mitsubishi, Sumitomo, Daewoo… đa ngành như của Nhật và Hàn Quốc? Không dễ được! Vì sao? Vì quá trình hình thành và vận hành các tên tuổi ấy khác xa với thứ hay mục đích mà ta muốn. Chẳng hạn, khi Mitsubishi xe hơi và Daewoo xe hơi bị đe dọa phá sản hay được ‘bán’ đi thì các anh em khác của họ (sister companies) vẫn vô tư làm ăn. Vai trò của Tổng hay Mẹ ở ta nghiệt nỗi phải ‘nửa quản nửa kinh doanh’, là doanh nghiệp nhưng nặng sự nghiệp, lại chẳng yên vì còn lo sắp xếp… nên chuyện bóc ngắn cắn dài không có gì khó hiểu.

Về con người, một mô hình tầm cỡ như Seaprodex lẽ ra cần có những nhà quản trị tầm cỡ để tải ý nghĩa và thực hiện ý đồ cải cách thì, do không kiếm đâu ra người hay vì một nguyên do khác, cái lõi nhân sự lại vẫn là nếp cũ, việc bổ nhiệm nặng nề, theo tôn ti xa rời môi trường kinh doanh. Vậy là ‘trái tim’ doanh nghiệp không mới, bộ máy điều hành một đơn vị làm ăn vẫn ‘sặc mùi’ quan cách. Biểu hiện nghịch lý chỗ này là gì? Trong khi các công ty thuộc các khu vực kinh tế khác (xin dùng từ ‘khu vực’ thay cho ‘thành phần’ vì rất nhiều vị giám đốc bạn tôi dị ứng với cách gọi sau) tốn nhiều công của cho việc “head hunting” (săn chất xám) để lùng kiếm người tài, thì ta lại cơ cấu người nhà, cài tay chân hay bà con các sếp vào, để có một ê-kíp ăn ý nhưng yếu kém, hậu quả là ăn hại… Trong khi anh khổng lồ được lắp ghép kia cần năng lượng tương ứng, thì do hòan cảnh eo hẹp có gì xài nấy, nên việc nó không chạy đươc, bệ rạc, âu cũng là lẽ đời. Cũng vấn đề con người, đặc biệt là về tầm hạn nhà quản trị, xin nhắc lại câu chuyện hơn ba năm trước… Sau khi suy hơn tính thiệt, bộ sậu một Tcty ‘sắp chết’ nọ đã đưa ra ‘sáng kiến’ xin chuyển tòan bộ vốn riêng của mình thành nợ ngân hàng cho khỏe! Suy nghĩ đơn giản không thể hiểu nổi vậy mà cũng lên trao đổi trên ti-vi! Đến năm 2003, sau khi cầm hơi được ba năm, với kết quả không ra gì tại một công trình trọng điểm của TPHCM, do sức tàn lực kiệt họ gần như xin ‘được chết’ nhưng lại vẫn được ‘cứu’ sống.

Đổ thừa cơ chế là điều không nên, xử lý người sai phạm thì đã hẵng… Nhưng tại sao vấn đề xảy ra dễ dàng, dai dẵng, có dây có nhợ, lại có vẻ phổ biến, là câu hỏi khó. Ở đây không thể bỏ qua các vấn đề về cơ chế, lỗi chủ quan hay trình độ, thiếu quyết tâm… ở các cấp cao hơn tổng công ty, trong quá trình thực thi định hướng và xác lập cái cụ thể để triển khai. Có ý kiến cho rằng nếu vào năm 1995 Seaprodex không phải làm ‘ông lớn’, cứ để cho các ‘thành viên’ tự thích ứng, anh nào chết cho chết, tiến hành CPH… thì tình hình sẽ khác. Vì ta cần nhớ lại, vài năm trước và sau khi lập ra Tcty Seaprodex, năm 1993 và 1998, Ree và Sacom đã thóat lên bằng con đường CPH rất thuyết phục: Ree từ một đơn vị làm máy nước đá khiêm tốn, còn Sacom chỉ từ một xưởng nhỏ sản xuất dây điện thọai có thiết bị cũ kỹ ở KCN Biên Hoà.

Có chăng lực bất tòng tâm? Vâng, điều gì cái đầu muốn nay cái tay lãnh hậu quả! Seaprodex lẫy lừng sau một vòng ‘mạo hiểm’ đang chịu cảnh chợ chiều. Liệu diễn tiến của ‘bà mẹ’ lụi tàn này có giúp ta hiểu hơn thế nào là ‘công ty mẹ’? Tôi nghĩ chính Ree, Sacom và nhiều công ty khác mới đủ tư thế làm ‘mẹ’ nếu họ muốn và biết cách. Sự tốt hơn của Ree, BT620, Sacom, Savimex… cho thấy nền kinh tế chỉ có ‘được’ chứ không ‘mất’. Ngược lại, số phận Seaprodex, Giày Hiệp Hưng, Dệt Long An… là gì? Là mất… Lo mất bây giờ mất thật!

Có chút đắng trong cổ họng để rút ra một đúc kết tạm: Nơi ta sợ mất lại được và nơi ta cho là được lại mất. Cái gì làm nên điều này? Động lực. Vấn đề động lực kinh doanh là tối quan trọng, cần được đặt ra nghiêm túc, cần cấy vào bên trong doanh nghiệp trong quá trình cải cách DNNN. Nền kinh tế như đang cần có sự can đảm, thậm chí phải chịu đau, để giảm thiểu khả năng phải trả giá. Các nỗ lực quốc gia đang cần vậy, vận hội đất nước đang cần vậy…

Huy Nam , CV kinh tế và TTCK

(Thoibao Kinh te Saigon 22-7-2004)

 

Toan tính vĩ mô trước tầm ngắm vi mô

Toan tính vĩ mô
trước tầm ngắm vi mô

Toan tính vĩ mô ở đây được hiểu là chiến lược phát triển ngành giấy đối với nền kinh tế nước nhà. Về mặt này, dự án Nhà máy giấy Thanh Hóa (Giấy Thanh Hóa) được xem là ‘hiệu quả’ trong cái nhìn kinh tế xã hội của một tòan cảnh lâu dài. Vì vậy, dự án đã được nhiều cơ quan Trung ương thẩm định khả thi, Chính phủ phê duyệt và tiền cũng đã được ‘chỉ định’. Nếu lễ khởi công đã diễn ra như một bước đương nhiên theo quán tính cũ, thì với bối cảnh mới vấn đề ‘tiền đâu đầu tư’ lại cũng đã nhanh chóng làm cho dự án ‘bất khả thi’. Có thể xem đây là sự cố của cách làm không còn tương thích…

Trường hợp “dưới không nghe” (không cho vay) ở đây theo tôi lại tích cực. Tại sao vậy? Là do việc triển khai dự án, đặc biệt là vấn đề tài chánh và khâu tổ chức thực hiện, chưa tương ứng tầm, chưa phù hợp với tính chất và mục tiêu dự án. Về tài chánh, các toan tính vĩ mô thông thường có mục tiêu và quan điểm hiệu quả khác với cái nhìn hiệu quả của ‘dân’ thương mại. Sự không gặp nhau trong nhìn nhận hiệu quả như vậy làm cho các ngân hàng thương mại ngại cho vay là điều dễ hiểu.

Các ngân hàng thương mại (dù là quốc doanh) khi xem xét ‘mở túi’ thì điều chắc là họ sẽ nghĩ ngay đến các yếu tố về lãi suất cho vay, khả năng trả lãi và kế họach thu hồi nợ. Nếu lãi suất cho vay bị khống chế 7% thì khó nói là hấp dẫn tại thời điểm. Vã lại, giả định lãi suất có cao mà hiệu quả lợi nhuận của dự án bị đánh giá thấp thì cũng khó cho vay. Khả năng về thanh tóan và thu hồi nợ (dù có bảo lãnh) theo kế họach triển khai dự án lại được cho là bất ổn do tiến độ khó đảm bảo như dự kiến, trong khi thời điểm 1-1-2006 (thuế nhập khẩu giấy còn 5% theo AFTA) đã kề cận. Chưa nói, dự án sẽ còn lệ thuộc nhiều yếu tố bất khả dự liệu dễ làm cho phí tổn đầu tư phát sinh cao. Chỉ riêng việc tạo điều kiện cho ngành cơ khí trong nước phát triển qua dự án này (Chính phủ sẽ cấp cho Tổng Công ty Máy & Thiết bị Công nghiệp 18 tỷ đồng để “mua thiết kế của nước ngòai về chế tạo khỏang một nửa số thiết bị cho nhà máy”) cũng có thể làm cho các ngân hàng không an tâm. Bởi như vậy dự án sẽ phải gánh thêm một ‘dự án con’ nữa và khó tránh chuyện anh này ràng anh kia.

Dự án Giấy Thanh Hóa khó bắt đầu còn do các điều kiện ‘khả thi’ bị cài qua lại hoặc bị lệ thuộc nhau. Đó là gì? Chủ đầu tư không phải là nhà đầu tư thực sự, họ không góp đồng nào vào dự án nên không có sự chủ động. Dự án trông chờ tòan bộ vào nợ vay (1637 tỷ đồng) nhưng chủ đầu tư chưa hẳn là con nợ mà dự án mới là con nợ. Khỏang phân nửa (?) tài trợ cho dự án là của Qũy Hỗ trợ Phát triển, nhưng nơi này chỉ ‘rót’ khi nào các ngân hàng thương mại đã gật đầu. Tổng thầu dù đã ‘trúng thầu’ nhưng chỉ có khả năng thầu sau khi được Chính phủ đầu tư cho mình 18 tỷ đồng và chỉ thực hiện thầu khi mua được thiết kế của nước ngòai… Thật ra, vướng mắc này không chỉ có Giấy Thanh Hóa, mà nếu không ách tắc thì hiệu quả kinh tế cũng sẽ dễ bị thách thức.

Do có kinh nghiệm thương trường, sự thẩm định của các ngân hàng thương mại chắc là phải sát thực hơn các cơ quan bộ, ngành. Và khi một dự án được đánh giá là hiệu quả lợi nhuận kém, thấp thóang rủi ro, thì ‘miếng mồi’ bảo lãnh chẳng qua chỉ là thử thách đặt trước bản lĩnh quyết định của các ngân hàng! Ở đây quy luật ‘hồn ai nấy giữ’ xem ra có ý nghĩa, vì kinh doanh là kinh doanh. Sự ‘nhát tay’ của các ngân hàng như vậy là đúng và cần thiết. Với họ, kinh nghiệm mía đường, xi măng lò đứng, đánh bắt xa bờ… là những bài học chưa ráo mực. Trong khi sự chú ý đang tập trung vào vấn đề vốn vay và dễ cho đây là nguyên nhân làm cho dự án bế tắc, thì thật ra đấy chỉ là hậu quả. Vấn đề căn cơ nằm ở lôgic triển khai, thực thể nào sẽ tải dự án đi mới quan trọng, và điều này thuộc về khâu tổ chức thực hiện.

Có thể khái niệm một cách đơn giản hơn để dễ nhận dạng. Dù gọi là triển khai dự án, đây không khác việc thành lập một doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) mới, họat động trong ngành giấy. Cần xem dự án ở đây chỉ mới như một ý tưởng kinh doanh. Muốn ý tưởng ấy hiện thực thì phải có doanh nghiệp cưu mang nó. Thực thể doanh nghiệp ấy lại cần có ‘vốn riêng’ và đây sẽ là khâu quyết định. Vốn riêng là vốn của “tôi” (chủ sở hữu doanh nghiệp). Vốn đó có thể là tiền của tôi (tự có) hay tôi đi vay, nhưng một doanh nghiệp thì không thể không có vốn riêng khi thành lập, cho dù bản thân nó về sau có thể tự đi vay. Ở đây dự án phải vay 100% là bài tóan khó, hóa ra chủ không bỏ đồng nào!

Ngòai việc bỏ sót nguyên lý tổ chức doanh nghiệp như vậy, bối cảnh huy động vốn ở ta lại quá hẹp. Lẽ đáng có thể tận dụng vốn trong dân và tiền nhàn rỗi trong các tổ chức bằng các phương thức huy động phổ biến… nhưng do ta còn quá nghèo các sản phẩm tài chánh, nên cả doanh nghiệp và Nhà nước quanh quẩn chỉ cậy có ngân hàng. Trong khi chính các ngân hàng cũng phải đổ mồ hôi huy động mới có vốn kinh doanh, đồng thời, do ‘được phân công’ làm ăn ở đọan nhạy cảm, họ buộc phải cẩn trọng chứ không mạo hiểm. Ta thông cảm với họ vậy.

Để có giải pháp khả thi cho dự án thì vấn đề triển khai cần được đặt lại hay sắp xếp lại cho đúng tầm. Các dự án quy mô có ý nghĩa kinh tế xã hội như Giấy Thanh Hóa nếu thực sự nằm trong một toan tính vĩ mô (được xếp vào lọai khai phá hay dọn đường) thì cần được Chính phủ ra tay trực tiếp. Vốn cho dự án tốt nhất là từ các lọai qũy tài trợ phát triển “tự có” của Chính phủ hoặc có thể phát hành trái phiếu. Sau đó (hay song song) mới tính tới các khỏan vay trong và ngòai nước. Khác với cách đang làm, việc thành lập một DNNN mới là cần thiết. DNNN mới này nhất thiết phải có vốn riêng do Chính phủ trực tiếp đầu tư, trực tiếp huy động nợ, chứ không nên hạ thấp tầm thông qua một DNNN khác (Vinapimex). Tại sao phải thành lập doanh nghiệp mới? Là vì công trình sẽ tự vận hành, kế họach hòan vốn dựa trên hiệu quả họat động của chính nó, trách nhiệm trả nợ được xác lập cao.

Nhiều nước đi trước tại ASEAN và Châu Á đã có kinh nghiệm thành công ở dạng đầu tư này. Chính phủ khởi xướng và trực tiếp đầu tư vào các công trình công nghiệp đòi hỏi quy mô như luyện thép, tổ hợp đóng tàu, khai thác nguyên/nhiên liệu… là những lãnh vực khó thu hút đầu tư tư nhân. Sau khi các cỗ máy này đã ‘chạy êm’ họ sẽ bán lại cho các nhà đầu tư và có thể thu lợi lớn.

Huy Nam

(Thoibao Kinh te Saigon 24-6-2004)

 

Nhất nghệ tinh

Nhất nghệ tinh

Hơn 25 năm trước, thời gian trước sau 1990, một thương gia người Israel trong quá trình giao dịch làm ăn với doanh nghiệp trong nước đã tỏ ý tiếc cho các đối tác Việt Nam về chuyện xuất nhập hàng. Ông cho rằng việc xuất hàng đi mà chỉ FOB và nhập hàng về lại đòi CIF như cách thường thấy ở ta là rất uổng phí, đã không có lợi cho doanh nghiệp lại còn khiếm dụng nhiều cơ hội kinh doanh tiềm năng.

Việc kinh doanh mà đơn giản chỉ là bán ‘không cần đến tay người mua’ và mua thì đòi ‘giao tận nhà’ như vậy hơn 25 năm sau không hẳn đã hết. Nếu cộng thêm các phương thức DDP (Delivered Duty Paid) hoặc DDU (Delivered Duty Unpaid) với điều kiện phục vụ đến ‘tận răng’ thì việc mua hàng chỉ còn thiếu khâu khui thùng, mở hộp. Và, nói theo cách hơi vĩ mô một chút, việc bán mua nói ở đây vô hình trung đã không khuyến khích phát triển nhiều ngành kinh tế khác, đặc biệt là về vận tải hàng hải và bảo hiểm hàng hóa. Nghề buôn ở ta có lẽ do vậy nên còn rất nội địa, khó bay bổng để vượt ngưỡng ‘tiểu thương’.

Gần đây, việc đầu tư trang thiết bị, máy móc trong hoạt động xây dựng nhà máy, công trình cũng tương tự vậy. Vấn đề tư vấn về kỹ thuật, quản lý trọn gói công trình theo yêu cầu EPC (Engineering Procurement Construction) của chủ đầu tư (dạng chìa khóa trao tay) dù các bên – nhất là bên cung ứng thiết bị – rất muốn có các đầu mối trong nước để giao việc nhưng rất khó tìm, nên thường phải nhường ‘khúc giữa’ này cho các nhà thầu nước ngoài, mà phần lớn là từ Trung Quốc. Vấn đề ở đây là tay nghề, là yêu cầu chuyên nghiệp…

Ta muốn ra vươn xa mà cứ dừng lại FOB và chắc cú CIF thì chẳng khác cách ‘nói vậy mà không phải vậy’, là nói ra biển lớn mà vẫn còn bám trên bờ. Tình trạng xuất thô nhập tinh phổ biến sau hơn 10 năm gia nhập WTO đã là mối lo không nhỏ cho nền kinh tế. Việc đòi hỏi đổi mới cơ cấu sản phẩm, thêm giá trị gia tăng cứ thôi thúc nhưng bế tắc lại cứ xuất hiện. Lắm khi không phải do ta (doanh nghiệp) thiếu tiền để du nhập công nghệ, để đầu tư trang thiết bị, mà thường là do việc họ (doanh nhân) không chủ động được khâu bán hàng và thị trường. Khuyết mua bán thì khó giàu. Mua bán do vậy là một nghề cần sự tinh thông, chuyên nghiệp, cần phẩm chất ‘nhất nghệ tinh’ như bất cứ nghề nào. Chừng nào tư duy nghề nghiệp đầy đủ và hiện hữu đều khắp các chuỗi sản xuất kinh doanh hay trong một thực thể doanh nghiệp thì vấn đề có hy vọng được hóa giải.

Về giao thương, việc ta chưa đi ra được bằng người nguyên nhân có thể là do ở mình có ít thương gia, thiếu vắng các nhà buôn chuyên nghiệp; khuyết các công đoạn chuỗi hỗ tương, các đầu mối tiền hô hậu ủng cả vi mô lẫn vĩ mô… Bên cạnh những hạn chế xa gần về định chế, với một xã hội ‘kém trọng thương’ có tính lịch sử qua nhiều thời kỳ, nghề buôn ở ta ít có điều kiện phát triển. Các đầu mối trung gian buôn bán lớn, buôn đường dài và làm ăn xa của người Việt do vậy hầu như không có. Khả năng khai phá thị trường, gia nhập vào một kênh mới, hay thậm chí chủ động tìm đối tác liên kết còn rất hạn chế. Sự hiện diện của thương nhân Việt Nam tại nhiều hội chợ chuyên ngành quốc tế còn quá khiêm tốn là điều thường thấy. Hoạt động gia công phổ biến, việc thích được bao tiêu phổ biến, khả năng sản xuất lớn và việc gầy dựng thương hiệu (hay cho một nhãn hàng) còn ít ỏi là chuyện kém vui. Trong khi đó nhiều tên tuổi nổi lên trong nước trong thời gian qua là từ nơi khác đến. Mặt khác, bằng nhiều con đường, nhiều phương thức, từ tiệm tiến đến đánh úp, họ có thể sẽ làm chủ cuộc chơi tại thị trường nội địa…

Về hoạt động sản xuất kinh doanh, ta ít có các công kỹ nghệ gia chuyên nghề chuyên nghiệp, được tiếp sức, kế tục sự nghiệp một cách lâu dài và bền bỉ… Tình trạng ăn non, đánh quả, thử thời vận, bao che dựa dẫm hay ô dù thân hữu là thực tế không khó thấy. Mặt khác, nhiều doanh nghiệp đang ăn nên làm ra, đang giàu có với một ngành vững chắc lại khoái mạo hiểm đa ngành. Thậm chí có anh mới ra đời, chưa giàu hay chỉ đủ ăn đã chơi tổng hợp. Việc không xác định được hoạt động cốt lõi, mênh mông trong hoạch định hướng đi, không chốt được cái gì là sở trường hay chủ lực còn có thể thấy trên điều lệ của nhiều doanh nghiệp. Trong quá khứ, cái bẫy đa ngành đã từng làm chao đảo hay thậm chí đánh sập nhiều tên tuổi. Chẳng lạ, vì nguồn lực nói chung trong đó có nhân lực luôn hữu hạn, cạnh tranh lại ngày càng khốc liệt. Do vậy không ‘nhất nghệ tinh’ thì sẽ khó trụ vững trên thương trường chiến trường, khó phát triển độ sâu nghề nghiệp, dễ bị tổn thương trước các thay đổi ngoại lai. Doanh nhân doanh nghiệp một khi đã thủ đắc được cột trụ nhất nghệ tinh thì không quá lo nay toàn cầu, mai bảo hộ…

Trên thế giới không ít công ty đã có lịch sử phát triển trăm năm trên cột trụ nhất nghệ tinh. Một khách hàng của tôi, Công ty Berwin & Berwin (Anh Quốc) có lịch sử hình thành 133 năm (từ năm 1885) đã vững vàng phát triển lớn mạnh toàn cầu với cột trụ là cái áo ‘veston’. Berwin & Berwin được tạo lập bởi một chủ tiệm may và đã trải qua bốn thế hệ tiếp nối. Hiện nay, Berwin & Berwin là nhà cung cấp hàng đầu ‘không đối thủ’ áo veston tại Châu Âu. Doanh nghiệp này cũng đã có một Liên doanh sản xuất tại Việt Nam.

Một tên tuổi khác không xa lạ gì với Việt Nam là Loesche. Tháng 9 vừa qua (2017) tôi có dịp tham dự sự kiện đặc biệt đánh dấu cột mốc “111” năm hình thành và phát triển của họ. Sự kiện kéo dài 4 ngày này quy tụ hơn 400 đối tác khách mời đến từ năm châu diễn ra tại Dusseldorf, Đức. Điều đáng nói và đáng ngưỡng mộ là suốt 111 năm ấy sản phẩm lõi của họ vẫn không gì khác hơn là chiếc máy nghiền khoáng sản. Chỉ khác là ngày nay họ bán công nghệ chứ không đơn giản chỉ là thiết bị. Sản phẩm của Loesche từ lâu đã là loại xếp hàng đầu thế giới cả về chất lượng lẫn thị phần. Đến nay, họ đã có mặt đều khắp năm châu, và hơn 20 năm qua Loesche là nhà cung cấp thiết bị uy tín số một cho ngành xi măng nói riêng và khoáng sản nói chung tại Việt Nam.

Cũng có thể ghi nhận đôi điều thú vị từ sự kiện tôi vừa nói trên đây. Người Âu Mỹ tin ‘’111” là ‘dãy số thiên thần’ (angel numbers) cho ý nghĩa xác tín hướng đi tốt đẹp. Tuy được xem là một Sinh Nhật rất đặc biệt, thật ra cả Loesche và các đối tác đã trải qua những ngày làm việc đầy nội dung và không kém phần căng thẳng. Và tại buổi tiệc tối gala, thay vì dài dòng lễ mễ, vị Chủ tịch và CEO Công ty khi đăng đàn phát biểu đã vắn tắt về triết lý thành công của họ là nhờ sự kết hợp của ba thành tố hòa quyện làm nên sự nghiệp doanh nghiệp, đó là nhân viên, đối tác và giới chủ. Với nhân viên, họ trọng việc gắn bó lâu dài và sự kế tục của con cái của họ (con cái của nhân viên). Với đối tác là sự nối kết cộng sinh, chia sẻ và bổ sung để cùng hoàn thiện. Với giới chủ là việc họ để lại sự giàu có tại doanh nghiệp chứ không mang về nhà…

Tôi rất tâm đắc với thành tố thứ ba… Suy cho cùng thì sự nghiệp của doanh nhân và sự nghiệp doanh nghiệp tuy độc lập và có độ ngắn dài khác nhau nhưng gắn kết nhau. Đó là sự kết tinh của quá trình làm nên một tên tuổi và cho sự giàu có, trong đó phần cốt lõi thường không thể thiếu vắng trụ cột nhất nghệ tinh.

Huy Nam,

CV Kinh tế Tài chánh Chứng khoán – Trọng tài viên TT Trọng tài Quốc tế VN (VIAC)

 

Tiêu thụ nhìn từ một góc khác

Tiêu thụ,
nhìn từ góc độ kinh tế

Tiêu thụ là cái “cớ” của hoạt động sản xuất kinh doanh. Tiêu thụ mà èo uột thì sản xuất kinh doanh không cách gì lớn nổi. Theo ý nghĩa kinh tế, khi người ta khuyến khích tiết kiệm thì đồng thời cũng không phải đã có cái nhìn xấu gì với tiêu thụ. Tiết kiệm để dồn nỗ lực cho phát triển sản xuất mà không tiêu thụ được thì nguy. Tuy nhiên, trong thực tế, ở những góc nhìn khác nhau, vấn đề đôi khi vẫn còn khá nhạy cảm.

Ở đây chúng ta không bàn đến những thái cực hoặc những hành vi đụng chạm đến đạo đức mà sự xét đoán thường cũng chỉ dựa trên những khái niệm tương đối – nơi có một biên cương rất mong manh. Còn lại, trong một tòan cảnh kinh tế bao trùm của vấn đề, có thể nói tiêu thụ mang tính tích cực và cần thiết. Đây là yếu tố ắt có rất cơ bản của hoạt động kinh tế.

Do đặc điểm về xã hội, trước đây ở ta một thời tiêu thụ từng bị đặt ra ngoài nhu cầu. Thậm chí được liệt vào danh mục sinh hoạt bị lên án. Đó là thời kỳ kinh tế tập trung sản xuất và phân phối. Tuy là vậy, nhưng ngay sau khi được phân phối (trong hoạch định cứng rắn) thị trường tiêu thụ theo nhu cầu lập tức xuất hiện và điều tiết một cách không chính thức.

Thật ra thời kỳ sản xuất và phân phối không chỉ có trong xã hội xã hội chủ nghĩa hoặc tại các nước có nền kinh tế hoạch định cứng rắn. Thời gian trước những năm sáu mươi, khi khái niệm tiếp thị (marketing) còn mờ nhạt, nhiều nền kinh tế còn hoạt động theo mô thức cổ điển với quá trình sản xuất và bán hàng khá đơn điệu. Hoạt động kinh doanh chủ yếu theo cách đi bán những thứ mình có; hoặc chỉ là để đáp lại các nhu cầu cơ bản, nhu cầu thường xuyên hoặc nhu cầu gia tăng… Đặc điểm của thời kỳ này là người tiêu dùng dễ tánh và họ không có tiếng nói mạnh.

Khi nhu cầu càng được thỏa mãn, nhất là khi con người không còn loay hoay với những thứ cơ bản, động thái tiêu thụ đã thoát khỏi ý nghĩa đáp ứng các đòi hỏi cần thiết. Người ta đi tìm cái tốt hơn, sự mỹ cảm, tiện nghi, sảng khoái, và cao hơn, ví dụ cảm nhận thành đạt… Cuộc sống tại các cộng đồng phát triển được thăng hoa đồng thời với khả năng chủ động trong chi dùng. Quyền phát bóng đã thuộc về người đi mua và họ khôn ngoan hơn. Câu hỏi “không có nó có chết không?” đã lặng lẽ mất đi. Lo sợ “hưởng thụ” hoặc “lười biếng” cũng nhẹ bớt. Bởi vì có vẻ như người ta ngày càng phải làm việc nhiều hơn, kể cả người đi học. Ý thức tiêu dùng hay thụ hưởng đan xen trong quá trình họ nỗ lực làm ra của cải. Các họat động làm việc, học tập, đầu tư, vui hưởng, cần được quân bình hợp lý song hành, không tách riêng ra được. Khái niệm nghỉ ngơi hoặc hưởng nhàn nay có khác xưa, ngày nay nhiều người làm việc đến cuối đời…

Nếu có ai đó lo lắng xã hội sẽ chuyển qua tiêu thụ (ý nghĩa tiêu cực) thì những người sản xuất kinh doanh sẽ còn lo hơn bội bội phần để tìm nguồn tiêu thụ, để mở rộng hoặc duy trì ‘thị phần’ (market share). Bởi, thực tế họat động tiêu thụ (phía cầu) luôn luôn có sự duyệt lại (chọn lựa), trong khi khả năng tiêu thụ được nhiều sản phẩm (phía cung) ngày càng khó hơn (bị cạnh tranh). Điều này thực sự xảy ra từ những năm sáu mươi trở đi khi lực lượng sản xuất bùng nổ. Ở châu Á thì chậm hơn một chút nhưng rất mạnh mẽ, với sự góp mặt của những tài năng mới như: Nhật Bản, tiếp theo là Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, và sau đó có An Độ, các nước Asean và Trung Quốc. Ý nghĩa tiếp thị xuất hiện mạnh mẽ nhất trong thời kỳ này. Đường chạy của các nhà sản xuất kinh doanh ngày càng chật hẹp hơn do con người được thừa hưởng gần như không giới hạn các ân huệ từ thông tin và khoa học kỹ thuật mang lại.

Yếu tố thông tin và sự giao thương rộng mở theo hướng hội nhập, là những làn sóng phát triển liên tục trong mấy thập kỷ qua, đã khai thông mạnh mẽ về qui mô và tập quán thị trường thế giới. Đến mức, khái niệm thị trường ngách (niche) được phát triển mạnh trong những năm ‘80, nay hầu như đã “kín ngách”. Khái niệm về thị trường đã và sẽ còn thay đổi. Bây giờ ra doanh nghiệp để tìm và chia lại thị phần thì khá cam go. Những chuyển biến và hoạt động kinh tế gần đây cho thấy có thể đã xuất hiện một khái niệm mới về sản xuất kinh doanh và khai thác thị trường, theo kiểu “khai hoang, lấp biển, cơi thêm, hoặc bám theo”… Công nghiệp sản xuất hàng điện tử, vi xử lý và công nghệ phần mềm hay các công nghệ phụ trợ là ví dụ. Bill Gate lên ngôi là nhờ ‘ông vua’ này tự khai khẩn để lập ‘vương quốc’ riêng… Rất nhiều phần mềm tiện ích bám theo đó, vừa không chia thị phần với Microsoft mà cũng chẳng phải là dạng “niche”. Khái niệm mới này tưởng giống như khái niệm bổ sung và thay thế trong kinh tế cổ điển, nhưng không phải. Tuy nhiên, cùng với hoạt động sản xuất các sản phẩm bổ sung và thay thế, khái niệm đó một lần nữa làm bùng lên lực lượng sản xuất. Sự tiếp cận như vậy giúp tạo ra sản phẩm mới, tạo thêm tiện ích, gia tăng giá trị sử dụng, tạo nhu cầu mới… Cho dù công nghệ thông tin và điện tử cho ta thấy điều này rõ nhất, thế nhưng không phải là điều hiếm thấy ở những lĩnh vực khác. Có thể nói, hoạt động marketing chứ không đơn thuần là sản xuất, đã chắp cánh cho tiếp cận thuyết phục này. Chính marketing đã làm cho các không gian nhà của chúng ta (người tiêu dùng) ngày một chật chội hơn. Chưa kể ‘internet’ và làn sóng tòan cầu…

Sẽ khó lường hết hậu qủa tiêu cực nếu bỗng nhiên mặt bằng tiêu thụ chung bị cắt giảm xuống chừng 10% chứ chưa nói nhiều hơn, và khi điều này xảy ra (thật sự là đã xảy ra tại nhiều nước) nỗ lực tiêu tốn để có sự hồi phục là rất lớn. Ngoài ra, một khi mức tiêu thụ của một loại thị trường nào đó kém, hoặc chựng lại thôi, có thể sẽ làm khê đọng nhiều ngành hoạt động liên quan khác. Ví dụ kỹ nghệ xe hơi sẽ ảnh hưởng (hay tác động) đến việc phát triển cầu đường; địa ốc liên quan đến hạ tầng và tài chánh, v.v…

Thực ra, các nền kinh tế rất sợ tình trạng khắc kỷ tiêu thụ hoặc dè xẻn qúa đáng… Nhật Bản là nước có kinh nghiệm này trước tiên từ sau những năm bảy mươi. Khi bài thuốc về cần kiệm được người dân Nhật ‘sử dụng quá liều’ và kéo dài hơn toa kê của bác sĩ (Sự hưởng ứng quá mức). Nền kinh tế đã bị “no hơi” và họ đã phải hóa giải bằng cách chuyển dần sản xuất ra nước ngoài. Tình hình sau đó còn căng thẳng hơn, khi suy thoái tác động thêm tâm lý bất ổn làm cho người dân dè xẻn hơn nữa. Đến mức vào cuối năm 1998, chính phủ Nhật đã phải áp dụng một giải pháp tình thế thật hiếm thấy, bằng cách phát ra các “phiếu mua hàng miễn phí”…

Một trường hợp tương tự là Hàn Quốc. Đầu năm 1998, do sự lây lan của suy thoái khu vực, kinh tế Hàn Quốc đã lâm vào tình trạng khó khăn. Trong nỗ lực vận động sự hợp tác của dân chúng để cùng tìm cách giữ ổn định, vượt qua sóng gió, có cả lời hiệu triệu ‘thắt lưng buộc bụng’. Với tinh thần kỷ luật và yêu nước cao, hiệu lực tiết kiệm được dân chúng hưởng ứng mạnh mẽ. Nhưng kết quả lại làm cho tình hình thêm nghiêm trọng. Lý do là vì khi xuất khẩu của Hàn Quốc giảm mạnh, bởi sự co cụm của thị trường khu vực và thế giới, thì sự cắt giảm lượng cầu trong nước chẳng khác một đòn đánh bồi, giáng vào các doanh nghiệp vốn đã yếu nay càng chới với. Liền sau đó, một sự tác động điều chỉnh tâm lý theo hướng khuyến khích tiêu dùng đã được thực hiện, nhằm cứu vãn kinh tế bị đình đốn. Ở Việt Nam, một số địa phương ở miền Trung và miền Bắc do khả năng tiêu thụ trong xã hội quá thấp, hoạt động sản xuất kinh doanh ở những nơi đó vào các giai đọan kinh tế nước nhà khó khăn thường có bối cảnh ảm đạm.

Những ‘lãng mạn kinh tế’ là thứ làm phong phú hoá cuộc sống, nhưng điều đó chỉ trở thành ‘hiện thực sản phẩm’ khi nào có một lượng cầu khả dĩ. Rồi chúng cần được cải tiến, hoàn thiện và nâng cao phẩm chất… Song, để làm được điều này thì khả năng tiêu thụ phải thuyết phục. Do đó, có thể nói tiêu thụ đã ‘tài trợ’ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Còn tiêu thụ như thế nào và đến đâu thuộc một phạm trù khác cần được tách riêng để tránh ngộ nhận đáng tiếc và không làm chậm quá trình xúc tác men kinh tế. Ví dụ một người làm việc có tiền thì cứ việc đổi xe, đổi nhà, rồi lại “cày” căng hơn nếu muốn mai này đổi nữa. Đến khi thấy ‘thế cũng được rồi’ hay khả năng tài chánh kém đi thì dừng. Nhưng nếu một người nào đó khác thực hiện điều này không phải từ khả năng lương thiện thì có thể là phi đạo đức. Cần phân biệt giữa hoạt động tiêu thụ trong phạm trù kinh tế với sự vung tay quá trán, nhũng lạm ăn xài hay hoang phí ngạo mạn trong phạm trù đạo đức. Tuy nhiên, ngay cả xa xí phẩm hoặc hàng cao cấp cũng sẽ chưa là vấn đề gì đối với người đã thành đạt hoặc theo cách họ đã phải “cày” bạo hơn.

Có thể vẫn còn những cách nhìn dị ứng với tiêu thụ. Những xét đoán, cách đặt vấn đề khác nhau có thể tiếp tục gây lẫn lộn. Cũng có khi cảm tình sẽ được dành cho ai đó chỉ biết làm và bỏ ống… Tuy nhiên, ta cần biết rằng trong kinh tế hiện đại bản thân tiết kiệm đích thực (hay khôn ngoan) lại là một hoạt động ‘tiêu thụ’, là đi mua các ‘hàng hoá’ trong một thị trường khác: Thị trường tài chánh và đầu tư tài chánh nói chung. Cần đổi mới quan niệm về tiết kiệm và khuyến khích tiêu dùng tích cực, không nên có thành kiến xưa cũ hoặc quá nghiêm khắc…

Huy Nam, Viết 2000, Hiệu đính 2003

 

Deming – Nội Lực Nhật Bản

Deming:
Chất lượng – Nội lực – Thương hiệu

Một sản phẩm hay dịch vụ sống được là nhờ khách hàng và thị trường. Rất đơn giản, nhưng không phải ai ra làm ăn cũng đều có thể ‘nhờ’ được. Rẻ-đẹp-bền là mục tiêu cạnh tranh, sự ổn định và nhân tính của sản phẩm dịch vụ là tiêu chí cần phấn đấu mới có. Một nhãn hiệu có thị trường hẹp có thể làm cho doanh nghiệp kém vui, nhưng nếu nó bị lạnh nhạt, hay nặng hơn bị tẩy chay, thì doanh nhiệp đó sẽ khổ. Chuyện có thể đúng từ gói mì đến chiếc xe hơi, từ việc bưng phở đến đón khách năm sao… Nhỏ như một ổ cắm điện mà tồi thì cũng dễ gây ra chuyện lớn. Các sự cố như vậy làm cho nhà sản xuất mất uy tín đã đành, chỗ bán nó cũng sẽ bị vạ lây.

Sự trung thành của khách hàng đối với món hàng là một động thái hành vi xoay quanh uy tín thương hiệu. Uy tín thương hiệu được tạo nên bằng chính chất lượng, trong đó có sự ổn định và lạc phúc do sản phẩm hay dịch vụ đem lại. Quảng cáo và các hoạt động khác chỉ là để giới thiệu, duy trì và mở rộng.

Trong giai đoạn kinh tế đáp ứng, hay lúc thị trường còn kém phát triển, chất lượng chủ yếu được quản lý bằng hành chánh và thủ tục. Khi thị trường đã phát triển, hoạt động kinh doanh không chỉ đơn giản để thỏa mãn nhu cầu, mà còn chú trọng đem lại cho người tiêu dùng cả giá trị sử dụng lẫn sự thân thiện. Từ đó, chất lượng được xác lập đều khắp trên các mắc xích của diễn trình quản trị. Trong quá trình gầy dựng tiềm lực cho tổ chức, yêu cầu về chất lượng sản phẩm đi đôi với việc nâng cao phẩm chất nhân viên và công việc của họ; mặt khác nó cho phép công ty tự tin để duy trì thị phần và thâm nhập mở rộng thị trường. Điều không còn mới này có thể rút ra từ kinh nghiệm Nhật Bản.

Nếu hiện nay khi đi chọn hàng, người ta thường hỏi “có đúng là hàng Nhật không” để mua, thì vào thập kỷ 50, hàng Nhật Bản xuất ra nước ngoài đã từng bị dèm pha là ‘hàng dỏm’. Các hàng hóa “made in Japan” chính cống ấy đã từng bị nhặt lên bỏ xuống, tứng nếm mùi ‘bầm dập’, nhất là tại Mỹ và Tây Âu. Nhưng hãy đợi đấy!

Khi nhận ra được khuyết điểm cơ bản này, người Nhật không cố sức cải thiện “hình ảnh” của mình bằng các ‘motto’ (khẩu hiệu) suông. Thay vào đó, họ âm thầm phấn đấu để cải thiện kỹ thuật, kỹ xảo, ứng dụng ngay vào việc sản xuất các sản phẩm được phát minh từ Âu Mỹ, với chất lượng không thua kém và sự tiện dụng vượt trội, rồi tung ngược trở lại vào các thị trường này…. Chẳng bao lâu, họ đã chiến thắng vang dội trên nhiều sân khách. Tuy thế, cuộc thập tự chinh về chất lượng (quality crusade) không đơn giản dừng lại ở đó. Vì không muốn bị xem là con ngựa non háu đá – một khuyết điểm bàng bạc trong nhiều nền kinh tế trong thời kỳ tiền công nghiệp – người Nhật đã đi tìm các phương pháp đặt nền tảng cho việc duy trì mục tiêu chất lượng của họ.

Năm 1950, Nhật Bản đã phát hiện ra và trải thảm mời W. Edwards Deming về làm cố vấn cho mình khi ông này đang đi rao giảng các ý tưởng về quản lý chất lượng trong một buổi nói chuyện về đề tài này tại nước Nhật. Và chỉ một năm sau đó, chính phủ Nhật đã bắt đầu tổ chức một giải thưởng cấp quốc gia hằng năm về cải tiến chất lượng. Người thắng giải sẽ nhận được danh hiệu mà ngày nay họ gọi là “Deming Prize”. Đó là một trong các danh dự cao quý nhất của Nhà nước Nhật.

Deming đề ra 14 điểm mà các nhà lãnh đạo và điều hành doanh nghiệp cần theo đuổi để đạt mục tiêu về chất lượng:

  1. Hoạch định cần dài hạn, chứ không phải chỉ tháng tới hoặc năm tới.
  2. Đừng bao giờ hài lòng về chất lượng sản phẩm của mình.
  3. Thiết lập việc kiểm tra thống kê xuyên suốt trên các qui trình sản xuất và yêu cầu các nhà cung ứng cũng làm như vậy.
  4. Sử dụng các nhà cung ứng ít nhất, nhưng tốt nhất.
  5. Tìm cho ra vấn đề trục trặc nằm ở đâu, ở các công đoạn cục bộ hay bản thân quy trình.
  6. Hãy huấn luyện cho nhân viên / công nhân chính công việc mà bạn đòi họ phải thực hiện.
  7. Nâng cao phẩm chất của các giám sát viên.
  8. Hãy ‘xua tan sự nể sợ’ (drive out fear).
  9. Khuyến khích các bộ phận làm việc sát cánh nhau hơn là chú trọng một sự phân lập cục bộ, tách riêng hay chia cắt.
  10. Đừng chủ quan nhìn nhận các mục tiêu theo một số cách cứng nhắc, dù đó là công thức đã rất phổ biến như ‘khuyết điểm zero’.
  11. Yêu cầu nhân viên của mình hãy làm việc có chất lượng, chứ đừng có mặt đủ tám giờ.
  12. Tập huấn nhân viên thông hiểu các phương pháp thống kê.
  13. Tập huấn nhân viên các kỹ năng mới khi điều ấy trở nên cần thiết.
  14. Gắn trách nhiệm nơi các quản trị viên cấp cao nhằm thực thi các nguyên tắc đã nêu.

Từ lâu, các nguyên tắc trên đã được nâng lên thành cẩm nang về quản trị chất lượng. Quản trị chất lượng không đơn giản chỉ là việc kiểm tra các “mẻ bánh tại cửa lò nướng” mà cần hiện diện bàng bạc từ khâu bột, trứng, bơ, đường… và xa hơn thế nữa khi sản phẩm được chuyển đến người dùng. Quản trị chất lượng là quá trình duy trì sự ổn định về phẩm cấp hàng hóa và dịch vụ mà nhà cung ứng đã cam kết với thị trường. Có thể gọi đây là nhân tính hay lương tâm cũng nên. Yêu cầu của ISO-9000 hiện nay phát triển bản chất đó.

Lý thuyết của Deming xem ra có vẻ khá đơn giản. Nhưng đáng nói hơn, người Nhật đã chọn và áp dụng những ý tưởng đơn giản ấy cho việc quốc gia đại sự của mình. Điều trớ trêu là, trong khi nước Nhật sử dụng Deming một cách trân trọng và người Nhật tôn vinh ông như một vị thánh (national celebrity) của họ, thì ngược lại tại Mỹ, quê hương của W. Edwards Deming, trước đây hầu như không ai biết đến nhân vật này. Có lẽ do “bụt nhà không thiêng” nên hạt giống Deming phải cần đến miền đất xa mới có cơ hội nẩy mầm. Nhưng đó chỉ là chuyện xưa kia… Ngày nay không một sinh viên quản trị hoặc một nhà sản xuất nào của Mỹ mà lại không thuộc lòng tên và lý thuyết của ông.

Tại Việt Nam hơn năm năm qua, tính đến 9-2003, cả nước đã có khỏang 2500 doanh nghiệp và tổ chức đạt chứng nhận ISO-9002-9000. Quá trình phấn đấu để có được và duy trì tờ thông hành có tính hội nhập này, hoặc nỗ lực hòan thiện sản phẩm để được cấp biểu trưng ‘Thương hiệu Quốc gia – Vietnam Value Inside’ của Chính Phủ (sẽ áp dụng từ 2004 đến 2010), tư tưởng Deming dù đã qua hơn nửa thế kỷ vẫn còn nguyên giá trị tham khảo.

Các doanh nghiệp Việt Nam có thể dùng đó để soi lại mình ngay cả khi đã có hay chưa cần đến chứng chỉ ISO. Đơn giản vì người Nhật cũng nhờ đó mà họ có nội lực để đưa nền kinh tế xứ ‘mặt trời mọc’ này lên hàng thứ hai cập kè sau Mỹ. Đến mức, có dạo những người Mỹ lo xa đã la toáng lên rằng ‘người Nhật đang âm thầm mua đứt Hoa Kỳ’…

Huy Nam, Viết 1999; Hiệu đính 2003

 

Làm chủ…

Làm chủ…

1.

Làm chủ là khái niệm từng được nhắc đến như cơm. Nhưng có lẽ không ít dịp ta cũng đã nghe ai đó nói…“chán” khi nhắc đến chuyện làm chủ. Chán cơm là điều đáng tiếc! Tuy nhiên, thật may đó chỉ là vấn đề kỹ thuật, là lỗi tiếp cận lối mòn, hô hào suông hoặc áp đặt đơn điệu. Cách truyền tụng giáo điều sẽ hạn chế sự cảm thụ về ý niệm làm chủ, còn ý tưởng chuyển tải đơn điệu có thể gây méo mó cho từng bối cảnh mà khái niệm này muốn truyền đạt. Làm chủ không còn lạ nhưng chưa quen, đã cũ nhưng còn mới, biết rồi nhưng chưa hiểu hết… Vậy làm chủ thế nào?

Làm chủ trước tiên nghĩa là ‘không làm khách’. Khái niệm này đề dẫn cho hướng tư duy ‘là người nhà’. Làm chủ với tư cách là người nhà thì dễ có cảm nhận cơ quan hay xí nghiệp là nhà. Người Nhật họ đã làm vậy! Tình cảm người nhà làm cho ta không ngại hòa nhập, yêu và gắn nơi làm việc hơn. Nhờ đó mà các khỏang cách cũng sẽ được thu hẹp. Làm chủ với phong thái người nhà ta có một tinh thần làm chủ thóat thai và cộng sinh. Vì tôi là một thành viên đang sống, chia sẻ và được chia sẻ với ‘nhà’ đó, tôi tự thấy mình có trách nhiệm với nơi tôi làm việc. Một khi ý thức vai trò làm chủ của tôi hình thành như vậy thì tôi sẽ thực hành vai trò đó một cách tự nhiên. Không ồn ào cường điệu, nhưng lúc nào tinh thần làm chủ ấy cũng mới như ‘cơm nóng’.

Nếu được nuôi dưỡng tốt thì tinh thần này sẽ tự sanh sôi nẩy nở, không cần o ép. Bằng ngược lại dễ là vòng lẩn quẩn. Ví dụ, vì lo ngại nhân viên không làm chủ mà ta cứ hâm đi nấu lại khẩu hiệu làm chủ một cách “vô hồn” sẽ là sáo rỗng. Hoặc, muốn có ‘người nhà’ mà ta lại xử sự theo kiểu ‘bề trên’ rồi phán xuống thế này thế nọ… sẽ dễ là cách đẩy họ về phía ‘khách’. Cũng sẽ khó hiện thực một tinh thần ‘làm chủ tập thể’ nếu từng người làm chủ ‘không thấy mình’ trong đó. Không là người nhà thì nhân viên sẽ kém thích thú, còn doanh nghiệp sẽ khó đến gần với cái nhất thể. Làm chủ rất gần gũi chứ không trừu tượng…

Làm chủ cơ quan xí nghiệp là một tình tự đẹp đẽ cần được gieo hạt, mọc mầm. Đó không là chiếc áo, cũng chẳng phải điều răn… Tư thế làm chủ của nhân viên có được từ quá trình ‘sinh học’ như vậy sẽ cho lòng tự trọng, niềm tự hào, giúp phát triển ý thức gìn giữ, xây dựng các giá trị chung cho tập thể đang dung nạp họ. Đó là một tinh thần làm chủ tập thể đích thực! Các giá trị đặc trưng của tổ chức nhờ đó mà tích tụ, giúp hình thành văn hóa tổ chức hay văn hóa doanh nghiệp.

2.

Làm chủ chỉ có vậy thôi ư? Không, đó chỉ là một giá trị làm chủ, là khái niệm xã hội quan trọng nhưng dễ bị xao lãng vào bối cảnh giao thời. Ít xuất ý về cảm nhận làm chủ theo tiếp cận là người nhà trên đây giúp ta hiểu bản chất vấn đề tốt hơn, đồng thời để gìn giữ các giá trị khác.

Về phương diện sự nghiệp, khái niệm làm chủ gợi ra và khuyến khích một tư duy chuyên nghiệp. Làm chủ là nắm vững và quán xuyến công việc hay nghề nghiệp. Cụ thể, chẳng hạn khi người ta nhắc đến ý niệm làm chủ thiết bị hay công nghệ là muốn có các chuyên gia cho một đơn vị hay một ngành kinh tế. Thuật ngữ tiếng Anh gọi khái niệm này là mastering. Tinh thần làm chủ ở đây là động lực vươn tới hoàn thiện, giúp từng cá nhân tiến bộ, tổ chức hiển đạt, xã hội phát triển.

Khái niệm làm chủ này đòi hỏi mỗi người trong tổ chức phải luôn rèn luyện, tự trau dồi, tìm tòi, nghiên cứu… để đáp ứng yêu cầu công việc hay vị trí hành sự, nhất là để không lạc hậu hay bị đào thải. Xem vậy, việc làm chủ về ‘tay nghề hay kiến thức’ này sẽ bổ sung thiết thực cho tinh thần làm chủ theo khái niệm ‘là người nhà’. Nhưng khái niệm làm chủ này không chỉ dừng lại ở việc nắm vững hay quán xuyến, mà xa hơn còn hàm ý làm tròn, là sự sắm vai tốt hay chu toàn. Khi đạt được khả năng làm chủ như vậy ta đồng thời có thể kiểm soát được hành vi. Các cá nhân sẽ hành động tự tin hơn, uy tín tổ chức nhờ đó được nâng cao.

Dù cho luôn được khuyến khích, khái niệm làm chủ này cũng thường có từ ý thức chứ không phải do sự o ép ngọai lai. Đã là ý thức thì cũng cần phải gieo và dưỡng. Nhưng không đơn giản như khái niệm làm chủ trước, ở đây cần được tạo điều kiện thực tế hơn và có thể phải chăm sóc nhiều. Sự tương tác trong nỗ lực vươn lên, và quá trình làm chủ công việc hay nghề nghiệp trong một tổ chức, có thể sẽ tạo ra sự cạnh tranh hay sàng lọc. Nhưng điều này không có gì xấu và đáng lo ngại cả, vì nó giúp các đơn vị, một cộng đồng hay xã hội mạnh hơn, lành mạnh hơn.

3.

Bước qua phạm trù kinh tế, khái niệm làm chủ sẽ chính là ‘chủ sở hữu’. Đây là khái niệm cơ bản nhất, lại rất thực tế do có tính cơm gạo. Tuy vậy, giá trị làm chủ này đã từng có quá trình nhìn nhận chẳng đơn giản, không suôn sẻ… Nhưng nhờ có sự trăn trở của xã hội, cuối cùng thì con đường ‘làm chủ’ này cũng đã được mở ra. Ngày nay quyền sở hữu đã được xác định, xác lập rõ qua các khung luật (giao dịch dân sự, kinh tế thương mại, doanh nghiệp), điển hình như Luật Doanh Nghiệp. Việc nhìn nhận chủ sở hữu đã được minh định. Ví dụ, chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là Nhà nước, chủ sở hữu công ty cổ phần là các cổ đông, v.v… Khả năng định đọat này tưởng chẳng còn cần giải thích, vì hầu như ai đi làm thì ắt cũng hiểu, nhưng không chắc ai cũng có thể thấu hiểu. Là bởi, do nền kinh tế tập trung bao cấp kéo dài, khái niệm làm chủ này đã bị lẫn qua lộn lại quá lâu giữa nghĩa vụ xã hội và động cơ kinh tế. Từ cách hiểu đơn giản (không tách bạch), khái niệm làm chủ ‘là người nhà’ (làm chủ tập thể) có vẻ như đã bị trộn chung với khái niệm ‘chủ sở hữu’ về tài sản. Tình trạng này có thể đưa đẩy đến các hành động hay nhìn nhận tiêu cực: Một mặt, có sự ‘cố ý lạm dụng’ tài sản nhà nước (sở hữu); mặt khác, thờ ơ hay o ép ‘tinh thần làm chủ’ qua cung cách cường điệu chứ không theo đạo lý người nhà.

Nhìn chung, nhờ bối cảnh vận động tích cực và được phân định, ngày nay cả ba khái niệm làm chủ trên đã có thể tồn tại đồng thời trong một doanh nghiệp. Các chủ sở hữu luôn tạo điều kiện để có một doanh nghiệp dung nạp tất cả nhân viên là người nhà. Đội ngũ người nhà này tự nỗ lực và được tạo điều kiện vươn lên làm chủ tay nghề và kiến thức để cùng phát triển. Đối với các công ty cổ phần, đặc biệt là tại các DNNN đuợc cổ phần hóa, người lao động còn có thể vừa là cổ đông, được ưu đãi mua hay tặng cổ phần… Sự đan quyện này cho phép ta nghĩ đến một bối cảnh công ty tốt đẹp và vững mạnh. Tuy nhiên, đây lại là một bối cảnh giao thời khác nữa cần được nhận dạng rõ và hiểu đúng để có hành xử đúng. Là vì, thực tế không ít người nay vẫn chưa hiểu hay không phân biệt được việc họ thực hiện các vai trò làm chủ của mình thế nào.

Làm chủ cách nào thì vẫn rất cần và gần gụi như cơm. Câu chuyện còn đó sự nóng hổi…

Huy Nam, 2004

 

Sự kìm hãm của lo và sợ

Sự kìm hãm của lo và sợ

Có một thực tế là chỉ khi nào có những cuộc thăm dò, được hỏi trong điều kiện khảo sát vô danh thì người ta mới chịu ‘tố cáo’ tham nhũng. Tương tự, tại nhiều nghị trường, nạn nhũng nhiễu, vòi vĩnh, ăn chặn vẫn thường được nêu lên, nhưng nếu được hỏi ‘ai’ thì dù ai có biết cũng chỉ xa gần chứ không dám nói thẳng.

Chuyện lại đã vượt ngưỡng đại sự quốc gia… Kết quả điều tra của Ngân hàng Thế giới (WB) phối hợp với Thanh tra Chính phủ công bố hồi tháng 11-2012 cho thấy, có tới 85% người được hỏi cho rằng tham nhũng là rất phổ biến trên phạm vi cả nước. Báo cáo cũng đã ‘xếp hạng’ tham nhũng ‘nhất, nhì, ba, tư’ theo lãnh vực và mức độ ăn đậm. Cho dù có gây bức xúc, những thông tin như vậy không còn lạ gì ở ta do ai cũng đã biết. Ai cũng biết, nhưng không dễ ai nói lên được và việc chỉ ra đó là ‘ai’ còn khó trăm lần. Thế nên, đã có bao nhiêu chuyện được xới lên quyết liệt nhưng cuối cùng đâu cũng vào đó. Việc sợ trả đủa, ngại thù oán là điều có thật…

Mới đây, vào đầu tháng 12-2012, lại thêm chuyện ‘trăm triệu’ chạy chỗ làm công chức huyện nổ ra tại nghị trường Hà Nội. Khi tin này được loan đi trên báo chí, người đọc cả nước đã nhanh chóng phản hồi là ở đâu cũng có chứ không riêng gì Hà Nội. Họ còn đàm tiếu giá nào ghế nào, rằng khách mua không chỉ để làm quan mà còn chạy chỗ, và câu chuyện không chỉ dừng ở huyện… Các thực tế tệ hại mất lòng dân và phổ biến như vậy lâu nay cứ lặng lờ trôi. Ai cũng biết, cũng lên án, nhưng do không làm gì được nên phải sống chung, phải tiếp tục là phía cung hay tham gia vào vùng mờ hối mại thế quyền. Thế mới oái oăm! Tình trạng dung túng bất đắc dĩ ở đây bắt nguồn từ sự lo sợ, từ lo đến sợ, và do lo nên sợ…

Do lo sợ, người ta chỉ có thể phản ảnh gián tiếp chứ không dám tố hay chỉ trực tiếp, chỉ nói lòng vòng chứ không dám nói thẳng, hoặc phải chờ có người phát pháo hô lên thì mình mới dám theo. Lo và sợ như vậy vô hình trung đã nuôi lớn nhiều thói hư tật xấu trong xã hội. Đáng ngại, không ít thói hư tật xấu ấy đã thành những cái nếp khó bỏ trong quan hệ và giao tiếp thường nhật, đến mức ai không theo đâm lo, không làm thấy thiếu. Trật tự phục vụ đã bị lề thói ban ơn che lấp. Từ chuyện con đi học, thủ tục hành chánh đến các nẻo đường làm ăn nếu không lo không yên tâm, không lót sợ rắc rối. Việc xử sự thực dụng núp bóng quà cáp phổ biến đã hạ thấp giá trị nhân văn của lời cảm ơn, lấy đi cái đẹp đích thực của mỹ tục. Được nhắc tới nhiều là tệ đút lót, hối lộ, chung chi song hành với nạn nhũng lạm, làm khó, vòi vĩnh bằng nhiều hình thức khác nhau. Nhưng đó chưa là tất cả. Lo sợ xuất hiện đa dạng hơn, tiềm ẩn ở nhiều khía cạnh và ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống.

Lo sợ dập tắt cảm hứng, làm ngưng tụ tư duy, khóa trái cánh cửa tự tin, biến con người thành thụ động, phòng thủ, ưa nghi ngờ. Lo sợ là nguyên nhân của sự rụt rè, khúm núm, gây tâm lý ngại bày tỏ, an phận, dễ thỏa hiệp, cầu an. Nếu vì quá lo đến phải sợ hãi thì nhuệ khí tiêu tan, mất lửa nhiệt thành và khả năng độc lập bị tê liệt. Thay vào đó là sự ngoan thuần hoặc chịu đựng.

Lo và sợ đã làm cho trường học thiếu các không gian tranh luận cần thiết, các nghị trường trở nên buồn tẻ, một chiều, khó dung nạp hoặc không thu đạt được các yếu tố bổ sung, những đóng góp trí tuệ như đáng lẽ. Người đi học mà lo sợ sẽ ngại phát biểu, không dám nói khác thầy, không thể có lời giải tốt hơn cho bài toán đã có sẵn đáp án, không có điều kiện bay bổng để bài văn của mình có hồn thoát mẫu. Người đi làm mà lo sợ thường chỉ biết chấp hành, đợi để được sai, ưa giữ mồm giữ miệng, biết cũng không dám nói, và nếu sếp có nói không đúng thì vâng dạ vẫn tốt hơn. Sự lo sợ có thể đã sẵn trong máu người đi học, trong thịt kẻ đi làm, nhưng cũng có thể là sự thụ nhận từ uy lực của thầy, của sếp, cũng có thể là do cái khuôn nó buộc người ta phải thế. Nếu ông thầy, vị sếp và cái khuôn mà tốt thì đã may, bằng ngược lại có thể là tai họa.

Lo sợ ngăn chặn sáng tạo. Vâng, khoa học đã chứng minh rằng nỗi lo và sự sợ hãi sẽ phong tỏa não. Bởi khi người ta lo sợ thì não lập tức bị đè nén, vỏ não (là khu vực suy nghĩ của con người) sẽ tê cứng do bị ức chế. Điều này làm não mất khả năng cảm ứng và sự suy tư để có sáng tạo không có miền phát triển.

Lo sợ có thể hình thành nên những cái liêu che đậy dốt nát, tạo phe cánh, bè phái, bao che, bảo thủ. Và một khi những bức tường bè phái, bảo thủ ấy được dựng lên để bảo vệ các vùng riêng thì hiền tài sẽ không có cửa, trí tuệ khó chen vào. Sự phiến diện, chủ quan, coi thường yếu tố dụng nhân sẽ xuất hiện, và đây sẽ là điều thiệt trăm phần cho doanh nghiệp, cho tổ chức, cho quốc gia. Việc không thích ai nói khác, lo ngại người hơn mình, thủ thế, cứ lối mòn cho chắc, sẽ là cái nút chặn phát triển. Trong một số bối cảnh còn xuất hiện những lo sợ từ dị đoan, cậy thần thánh vào ngày giờ đi đứng, dựa ông thầy bà bóng để tin rằng tay này hợp, tay kia không… Những chi phối cõi trên như vậy đã làm cho các ước lệ hành xử bị méo lệch. Nhiều người có thể đã mất ăn mất ngủ trước những đợt di dời hay sắp xếp mà tiêu chí không thuộc về năng lực và đạo đức.

Sự sợ hãi còn là cái đuôi của lòng tham. Điều này dễ thấy trong lãnh vực đầu cơ, đặc biệt là với thị trường chứng khoán. Đúng là càng tham thì càng sợ hãi. Nhưng ngược lại thì không đúng (hoặc chỉ đúng một phần trong vài tình huống khi có sự câu kết giữa sợ hãi và quyền lực). Bởi trong nhiều trường hợp, sự sợ hãi đã làm cho người ta nguội lạnh, ích kỷ, mất dũng khí, thu mình vào vỏ ốc. Sự dửng dưng trước những tổn thất, phí phạm, thây kệ với thói hư tật xấu, lạnh lùng trước các cảnh đời khổ đau, bất hạnh… là những ví dụ. Lo sợ cũng hạn chế khát khao, ngại khó, hễ cái gì phức tạp là thận trọng. Thấy “tàu con thoi” bên Mỹ nổ chết người đã vội ra kết luận ‘ta nên thận trọng’, vội nói ‘không’ (cho khỏe!). Hậu quả là có bao điều hay, chuyện tốt đã có hằng trăm năm ở xứ người, giúp kinh tế nhiều nước thoát lên giàu có, mà nay ở ta vẫn cứ xa lạ, mù mờ. Đất nước do vậy nên khó cất cánh.

Đáng mừng là tình trạng dửng dưng thây kệ kia chưa phải đã nhiều, sự khát khao không phải đã hết. Đất nước vẫn còn nhiều triệu bàn tay, khối óc sẵn sàng đóng góp và mong được hiến dâng. Vấn đề là khả năng tập trung và môi trường dung nạp. Môi trường ấy không nên có các bức tường quá kín, những rào cản quá cao. Môi trường ấy cần được xây dựng trên tinh thần tin cậy, cầu thị và cởi mở, có sự bình đẳng tối thiểu, và gồm những cái đầu biết lo nhưng không sợ.

 

Trung thực

Khi trung thực chỉ còn như “rau sạch”…

Nói dối là tật hư thói xấu, là điều không ai muốn, nhưng trong thực tế lại khá phổ biến. Nói dối là nói sai sự thật, là che đậy không trung thực, nhưng lại được dung túng. Nói dối để bảo vệ cái đẹp, giữ điều lành việc thiện, thì không xấu. Nếu đó là toan tính không lương thiện, vụ lợi, thỏa hiệp, thì khó chấp nhận. Việc thừa nhận dối là thật hoặc nói thật dễ bị cho là dối có chăng đã làm lung lay các giá trị nền tảng…

Về mặt tình cảm, nói dối có khi là sự biểu tỏ ý nhị, là cửa thoát có tính hóa giải, là cách xoa dịu nhẹ nhàng. Việc chờ đợi để được nghe nói dối lại có thể là nét đẹp gìn giữ yêu thương. Trong thơ nhạc, dối gian thường được thi vị hóa là tình tự lãng mạn, là thú đau thương. Nhà thơ Ralph Waldo Emerson đã nói “sự thật đẹp thì chẳng còn nghi ngờ, nhưng dối gian cũng đẹp”. Về mặt đạo lý, nói dối cũng được phép trong các trường hợp cần cứu giúp, che chở lúc hiểm nguy, để hóa giải nỗi đau, sự cùng khổ… Tuy nhiên, với các mối quan hệ khác thì chưa thấy ai khuyến khích nói dối.

Thế nhưng, nói dối lại đã có đất sống ở những lãnh vực lẽ ra cần trung thực. Thời kinh tế bao cấp, cơ chế duyệt kế hoạch gắn với các chỉ tiêu thi đua đã sinh tệ đối phó, phù phép. Có ai muốn thua thiệt để cuối năm về tay không đâu, thế là có dối. Đã vậy, sự tương liên thành tích và lợi ích thời ấy đã làm cho trên dưới đề huề dễ dãi. Vào những năm trước 1990, tại nhà máy nơi tôi làm việc, những dãy sản phẩm “hoàn chỉnh” bề ngoài y như thật, nhưng rỗng ruột, là hình ảnh quen thuộc để được công nhận vượt kế hoạch. Ở các doanh nghiệp thương mại, cùng một cuộn phim hay băng nhạc có thể được ‘quay vòng’ để vượt chỉ tiêu doanh số, trong khi nó vẫn nằm yên trên kệ. Chuyện lời lỗ thường không quan trọng bằng chỉ tiêu pháp lệnh. Ai cũng biết đó là không trung thực, nhưng do sinh kế việc cả tập thể phải “đồng thuận” như thế là không khó thấy. Chỉ tiếc, nhiều tên tuổi vang bóng một thời do vậy mà bị xóa sổ.

Thực trạng chẳng đặng có tính lịch sử của một giai đoạn chuyển mình như vừa nói tưởng đã hết, nhưng không. Nhiều biểu hiện về sau cho thấy sự gian dối còn biến hóa phức tạp hơn, và không dừng ở lãnh vực kinh tế. Thật vậy, nếu việc nâng khống, bọng ruột trong đầu tư kinh doanh, các ‘hố tử thần’ ở ngân hàng… thời gian qua có làm ta ngỡ ngàng, thì những băng hoại đạo đức trong nhiều hoạt động cần mực thước khác lại nhức nhối hơn. Các vụ nhân bản xét nghiệm y khoa, bội thề Hippocrate, dễ dàng bỏ mặc sản phụ, thai nhi tử vong, làm chết người vứt xác… là ngoài sức tưởng tượng của người lương thiện. Tình trạng học giả bằng giả, sự nghi kỵ bằng cấp với việc cấp bằng, bố trí các “học giả” có “bằng thật” ngồi lộn ghế… sẽ còn di hại lâu dài. Vấn đề y đức, lương tâm, danh dự chức nghiệp… nghe thấy lo.

Vụ lương khủng nổi lên hồi 8-2013 tuy gây bức xúc, cũng chỉ mới phản ánh một mặt vấn đề. Mặt còn lại là sự khó lý giải của lương danh nghĩa, lương ‘bèo’. Nhìn vào mức lương quá khiêm tốn được công bố trả cho nhiều vị trí cao và quan trọng là chưa tương xứng, không sòng phẳng, chẳng công bình. Mặt khác, với đồng lương quá bèo mà đòi tận tụy, liêm chính, hết mình vì công việc, là không thực tế. Chưa dám nói tiêu cực, ai có tốt cũng phải ‘hai ba chân’, hoặc ‘chân thì cơ quan, đầu lang thang chỗ khác’, và vậy là không thực. Không thực với người làm việc ăn lương và cả với guồng máy lớn về hiệu quả toàn dụng (full employment). Đây chính là vấn đề của “1%” hay “30%” mà các nhà lãnh đạo đất nước đang trăn trở…

Thông tin về mức lương năm, bảy triệu, và việc bồi dưỡng mỗi ca trực cho CSGT ‘chỉ bằng ổ bánh mì’ mới đây là điều đáng suy nghĩ khác… Điều này làm tôi nhớ lại thời bao cấp: Một bữa cơm ăn được ở ngoài phải 3 đồng, nhưng chế độ công tác phí quy định lúc ấy chỉ 1 đồng, vậy là tôi phải “kê” khống lên 2 bữa hoặc ‘vẽ’ thêm 2 người cho đủ 3 đồng! Dù muốn hay không, tôi (và cả đơn vị) cũng buộc phải gian dối để được việc. Dối này là thực và thực ở đây lại dối… Bi hài quá! Nhưng đây từng được xem là ‘vận dụng’. Vận dụng như vậy chẳng khác cách nói dối được chấp nhận. Nhưng rủi ro… Rủi ro, nhưng không vận dụng thì không được việc. Vận dụng có thể nào như con dao hai lưỡi!?…

Nói dối có thể chỉ là nói đỡ, là lý lẽ hợp lệ hoặc tình thì thật mà lý thì không. Nhưng một khi nó có chất gian trong đó là bất chính. Dối trá không dừng ở lời nói mà nằm trong sự việc, và khi nó ký sinh trong các thể ‘gian, giả, lừa’ thì sẽ biến hóa vô vàn. Bởi vậy nên Jean Jacques Rousseau đã nói “sự dối trá có thiên hình vạn trạng, nhưng sự thật thì chỉ một”.

Một quảng cáo phi lý, quá lời, cố ý thổi phồng để tạo hình ảnh sẽ dễ rơi vào vùng dối. Ngược lại, các thông tin tiếp thị sử dụng tính trung thực để gây chú ý hay tạo lợi thế khác biệt lại có thể vô tình trở thành cách xác nhận (hay thú nhận) về một bối cảnh không thực rộng hơn. Vậy cho nên ngày xưa ai mà tin ‘xuyên tâm liên’ trị bá bệnh… Và nay, nếu ta hiểu ‘rau sạch’ và ‘sữa trăm phần trăm’ như ‘sự khác biệt trung thực’, thì phần lớn rau và sữa còn lại ‘không có sự khác biệt’ nên được hiểu là gì?

Mặt khác, cách nói chung chung, không cơ sở, nói lấy được, chuyện ít xít ra nhiều, nói điều không có, không kiểm chứng được, huyễn hoặc xa vời… là nói dối rồi. Cách chữa bệnh bằng nước lã, thần thánh lên đồng, mặc khải phi tôn giáo, và gần đây là ngoại cảm… không biết phải nói sao cho ‘lễ độ’. Chỉ đến khi chuyện “người chết” Nguyễn Viết Thuấn từ An Giang về Hà Tây thăm “mộ của mình” nổ ra hồi 11-2013 mới ‘bó tay’ ngoại cảm! Chuyện hy hữu này có là lời cảnh tỉnh? Chưa chắc. Do các bài bản lừa phỉnh còn rất tinh vi, được rao giảng và tổ chức quy mô, lại hư hư thật thật đánh vào chỗ yếu con người, mà ai nhẹ dạ cả tin có thể tiền mất tật mang, mê muội mất mình. Đã có không ít vụ lừa độc tầm thế giới, như giáo phái Aum Shinrikyo với gần 50.000 tín đồ ở Nhật và Nga, Peoples Temple và Mormon ở Mỹ, Mungiki ở Kenya, hay ‘Con thuyền Noah’ xứ Ba Tây…

Nói dối không thể nào là lành mạnh, nó làm xói mòn niềm tin, nhưng có thể cộng sinh trong môi trường không quen nghe nói khác. Với doanh nghiệp, một khi hào quang các ‘sếp’ quá lớn, lại chủ quan và thích êm tai, sẽ dễ là nguyên nhân làm thui chột sáng tạo, tắt lửa nhiệt tình. Tình tự làm nhưng không phục, im lặng cho yên, là trạng thái tâm lý không có lợi. Trí tuệ doanh nghiệp có thể mất đi một nửa khi phản biện bị dị ứng, hay tệ hơn bị xem là cản trở. Người tài kẻ giỏi ở đó mà nói khác thì rất dễ bị thất sủng. Chẳng lạ, vì người ta đang ‘sướng’ mà anh bảo đừng là mất điểm. Môi trường ấy mà nói ‘dạ’ cũng dễ đồng nghĩa như dối. Dối trá ở đây có thể được thông cảm, nhưng nếu ta xem điều này là bình thường thì nguy hại.

Trung thực là cái gốc “chân” để ta có “thiện” và “mỹ”. Nhưng một khi các giềng mối cốt lõi bị phương tiện phù phiếm soán đi thì giá trị sống sẽ lung lay, chân-thiện-mỹ sẽ như đồ trang sức, và trung thực bị cách điệu thành “sự khác biệt”… Có chăng sự đua tranh thực dụng, thiên hình thức, trọng bề ngoài, bon chen vô cảm… đã làm cho trung thực lép vế? Xã hội lại đang kêu than về sự băng hoại, suy đồi, vô đạo đức, và ai cũng lên án gian tham, nhưng việc gìn vàng giữ ngọc, vun bồi bản sắc giá trị và nền tảng hành xử trung thực sẽ cần đến nhiều chục năm chứ không dễ sớm. Sốt ruột… Tiếc là những câu chuyện tải đi lẽ sống muôn đời, gieo nhân cách, cấy niềm tin từ lúc ta hồn nhiên, như chú bé người gỗ Pinocchio nhờ bỏ tật nói dối mà có lại cái mũi nhỏ xinh và được làm người, nay quá mờ nhạt.

Huy Nam

CV Kinh tế TC Chứng khoán TPHCM – Giảng viên PACE – Thành viên Hội đồng Chỉ số HOSE – Trọng tài viên TT Trọng tài Quốc tế VN

 

Thuế thu nhập đất

Thận trọng thuế thu nhập cá nhân từ đất

Có lẽ không có cách hiểu khác: Một khi ta gọi là ‘thu nhập’ thì điều này liên quan đến một hoạt động nào đó có ‘thu’ và sẽ ‘nhập’ vào tài sản của một cá nhân hay doanh nghiệp. Thuế thu nhập (income tax) là sắc thuế đánh trên khoản thu ấy trước khi nó nhập vào tài sản riêng của một người hay một thực thể. Tài sản đó có thể là tiền, vàng bạc, ngoại tệ, hay nhà đất…

Tài sản riêng sẽ thay đổi về tương quan giá trị (ví dụ giữa vàng/ngọai tệ so với tiền) theo thời gian, nhưng bản thân tài sản đó có thể được xem là không thay đổi. Một lô đất ở 36 mét vuông (3x12m) được mua mười năm trước giá 60.000.000đ (12 lượng vàng 24K). Giả định lúc này (năm 2004) lô đất ấy có giá 300.000.000đ và người chủ quyết định chuyển nhượng để đổi nhà thì liệu chênh lệch 240.000.000đ sau khi được cân đối phí có phải là thu nhập chịu thuế? Liệu rằng sau khi bị đánh thuế người ta có thể tái tạo một lô đất tương đương? Việc đánh thuế thu nhập dựa trên sự chênh lệch ‘trượt giá’ tương đối như vậy là điều không thỏa đáng, nó cắt xén vào phần ‘nền’ của lô đất cố hữu, làm hụt khả năng cải thiện nhà ở. Tuy vậy, ta không nên hiểu vấn đề quá đơn giản.

Đất đai là một loại tài sản rất đặc biệt. ‘Đặc biệt’ ở đây không phải do quan điểm nhìn nhận về sở hữu, mà là ở vai trò nó sẽ thủ diễn trong từng bối cảnh: (1) Khi được dùng cho mục đích để ở thì đất đai là thứ nhu yếu, đây là vai trò chủ lực và là lãnh vực nhạy cảm nhất của đất. (2) Kế bên hay đồng thời với mục đích để ở, đất đai (rộng hơn là nhà đất) là lọai tài sản cơ bản (cố định), làm phương tiện sản xuất kinh doanh. Đây là cách lưu giữ thành quả cổ xưa nhất, là vốn riêng của một người hay doanh nghiệp (sau khi hòan thành các nghĩa vụ). (3) Trong môi trường khai thác thương mại dịch vụ (chuyên hay bán chuyên) về nhà đất, ví dụ kinh doanh thương phẩm, mua đi bán lại, cho thuê, môi giới, thì nhà đất là hàng hóa/dịch vụ, hay có gắn với hàng hóa/dịch vụ trong thị trường bất động sản. Đây mới là họat động làm ăn và có thu nhập chính trên nhà đất. (4) Tại nhiều nước thị trường phát triển cao, còn có một lãnh vục đầu tư tài chánh dựa trên cơ sở nhà đất, với các hoạt động liên quan đến ‘để đương’ (mortgage) và ‘tín dụng bảo chứng’ (margin). Họat động này có thể cho ‘thu nhập đầu tư’ gọi là “capital gain” (hay lỗ đầu tư gọi là “capital loss”)… Như vậy, phải chăng do chưa có sự phân định, ta súyt gom ‘cơm’ và ‘bánh’ vào chung một rỗ?

Theo các bối cảnh như vừa kể thì dạng (1) và (2) không thể chịu thuế thu nhập, hoặc nếu có thì sẽ được phân lập thật hợp lý – có rơi vào họat động (3) và (4) hay không. Tuy nhiên, quyết định thuế nào thì cũng luôn cần có độ đậm nhạt tùy theo chủ trương và điều kiện phát triển của một nền kinh tế. Ở đây có thể là chính sách quốc gia về gia cư, vì điều này sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu cải thiện nhà ở liên tục của dân chúng, đến bộ mặt xã hội… Ngòai ra, cần phải tiên lượng các mục tiêu có tính vĩ mô khác như: Nên động viên tài chánh hay thu thuế? Cần cởi mở để hu thút hay thu hẹp? Hiệu lực, hiệu quả, hay hậu quả, của chính sách thuế là gì? Sở dĩ phải cân nhắc vì theo cách làm của nhiều nước, ngay như ở Mỹ, thì tuỳ theo chủ trương mà họ có áp dụng thuế hay không, áp dụng sắc thuế nào và khi nào áp dụng. Người ta cũng có thể đặt ra các khung thời gian tạo lập ổn định, ví dụ sẽ được miễn giảm sau 3 năm, vì theo quan điểm kinh tế thì ít ai dám mạo hiểm tài chánh để đầu cơ quá 3 năm. Về sắc thuế, khuynh hướng chung là sử dụng loại thuế tài sản, gọi là “ad valorem” hay “property tax”. Nhưng đây là lọai thuế rất nhạy về ‘dân ý’, cần cân nhắc và thường do địa phương cấp thấp (cấp quản lý nhà nước trực tiếp) hành thu, ở Mỹ là cấp quận (county). Tuy nhiên, sắc thuế này chỉ tốt khi xã hội đã có nếp quản lý tốt và nền kinh tế đã có tính minh bạch cao, vì nó không thể chỉ áp dụng riêng cho nhà đất mà còn liên quan đến nhiều loại tài sản khác.

Tại các nước đang phát triển, cụ thể là tại Việt Nam, nhà đất còn là loại tài sản cơ sở (underlying asset) giữ vai trò chủ lực trong giao dịch tín dụng, tạo vốn. Cả ngân hàng, giới sản xuất kinh doanh và người dân đều dựa nhiều vào đây để thực hiện mục đích của mình. Tuy nhiên, chỉ khi nào giao dịch về nhà đất không bị tắc tị, dễ thanh khỏan, thì điều vừa nói mới phát huy tác dụng. Ta còn nhớ khoảng trước năm 1990, khi còn khái niệm ‘nhà của hộ, đất của toàn dân’ thì chẳng có ngân hàng nào dám dựa vào nhà và đất để cho vay tiền. Đơn giản vì không thể thanh lý (thanh khỏan). Mặt khác, cũng từ khoảng sau 1990, nhờ chính sách nhà đất cởi mở hơn, nhiều địa phương đã giải được bài toán hốc búa về vốn cho phát triển hạ tầng, với chủ trương ‘đổi đất lấy hạ tầng’, bằng sự vận dụng đơn giản: Khuyến khích người dân chuyển tài sản từ tiền vàng sang nhà đất. Giả định trong thời gian đó mà có thuế thu nhập nhà đất thì liệu sẽ có nhiều người hưởng ứng chủ trương ích nước lợi dân này? Sẽ khó hình dung nhiều đô thị trên cả nước, điển hình như Đà Nẵng, có thể phát triển như ngày nay nếu 10 năm trước đây người dân biết có loại thuế thu nhập đất 28%! Cũng chẳng nên tránh né để nói rằng chủ trương đổi đất lấy hạ tầng không chỉ dành cho người có nhu cầu trực tiếp về nhà ở. Vã lại, không thể vì một số rất ít kẻ đầu cơ mà ta bắt cả một nề nếp bình thường của xã hội phải chịu ‘sốc’. Trị đầu cơ ta có thuốc khác và thực tế đã có nhiều trường hợp phải ‘phơi áo’. Tuy vậy, không nên quan niệm đầu cơ theo cách cổ xưa, không khéo ta lại rơi vào sai lầm như đã đối xử với thị trường chứng khoán non trẻ hồi 2001. Cũng không nên vội vã áp dụng liệu pháp thuế cao để “trấn áp” như trước đây. Với “20%”, thị trường từng rơi vào tình trạng trầm lắng kéo dài: Giao dịch nhà đất co cụm, thuế không thu được, xã hội kém sinh động, các lợi ích kinh tế khác kém phát huy… Sai lầm này phải mất nhiều năm để sửa, nay không có lý nào để lặp lại.

Việc xác định ‘giá vốn’ để tìm ra thu nhập chịu thuế (nhà nước có thể tự định giá vốn và giá bán để xác định chênh lệch) dễ rơi vào cách làm chủ quan và khiên cưỡng, đưa đẩy các bên liên quan vào các tình tiết đối phó và/hoặc tiêu cực. Hơn nữa, ý nghĩa kinh tế của khỏan chênh lệch ở đây, như đã nói, có thể giống như khỏan ‘bảo tòan vốn’ hơn là thu nhập. Vì giá trị kinh tế của đồng tiền theo thời gian cũng cần được hiểu như cách người ta ví von: “một đồng bạc bây giờ nếu mua được hộp diêm thì sau một thời gian đồng bạc đó có thể chỉ mua được một que diêm”. Do vậy, cho dù cách tính, cách áp thuế (như đã dự kiến vừa qua) có đưa ra các trường hợp được chiếu cố, giảm nhẹ, thì ‘đại lượng’ được xác định để áp thuế (chênh lệch tính theo tiền) lại không thể hiện đúng thực chất của sắc thuế: Gọi là ‘thuế thu nhập’ nhưng lại đánh nhầm vào tài sản riêng!

Theo yêu cầu đồng bộ của nền kinh tế, cùng với đặc điểm nhạy cảm của nhà đất, việc tập trung xây dựng một thị trường bất động sản cho nên hình nên dạng thiết nghĩ là việc cần ưu tiên trong giai đọan này. Chuyện thuế nên đi sau. Chính vì không có thị trường, hay có nhưng úp úp mở mở mới có “đầu cơ”. Kinh nghiệm ngoại tệ, vàng, hay thậm chí đường sữa trước đây, chẳng còn lạ. Bên cạnh đó, cũng cần bình tĩnh với một cậu bé mới lớn (thị trường non trẻ) vì theo thuộc tính thì nó thường có một giai đoạn “nhổ giò” hay “dậy thì” với ít nhiều bất kham. Thị trường nào cũng có những giai đoạn quá độ “ấu trĩ” ấy, và ta không nên vội làm ‘tắt lửa’.

Bất động sản hay thị trường bất động sản không tồn tại cho riêng nó mà là “lẽ sống” của nhiều chủ thể kinh tế khác. Bởi vậy, khi nó “ngủ” thì không phải bản thân nó ngưng trệ mà có thể gây ‘buồn ngủ’ cho cho các lãnh vực kinh tế ‘láng giềng’ khác. Nó lại có thể chịu đựng được giấc ngủ dài, trong khi cuộc sống kinh tế thì không thể. Cho nên cần thận trọng, kẻo lại “bóc ngắn cắn dài” (*).

Huy Nam, 2004

(*) Phát biểu của ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An trong kỳ họp thường vụ Quốc hội ngày 24/12/2003.

 

Nhà thu nhập thấp

“Biệt thự”… cho người thu nhập thấp

Không rõ từ lúc nào, cụm từ ‘nhà cho người thu nhập thấp’ đã trở thành phổ biến. Đây như một lời hiệu triệu, một chủ trương hay. Nhưng thực tế cách làm thì lại dọ dẫm, lúng túng… Và vì được ‘cưng’ nên đứa con diện chình sách này cũng đã làm khổ cho cả thị trường bất động sản.

Để cụ thể hoá chủ trương, từ năm 2003 các dự án nhà đất tại TPHCM đã bị ‘chỉ thị’ phải dành 10% đất thành phẩm (đất ở) và 20% diện tích căn hộ để bán cho Thành phố. Gọi là bán nhưng chỉ được nhận tiền vốn ‘hợp lệ’. Chưa nói sự khó xử về bố trí chi tiết khi triển khai dự án, đây như sắc thuế trực thu từ trời rơi xuống mà doanh nghiệp phải bấm bụng chịu dù ấm ức. Sau nhiều phản ánh, cuối cùng thì ‘lệnh’ này cũng đã được nhìn nhận là sai và bị bãi bỏ. (Tiếp theo việc bỏ cái ‘cấm cỡi lắm xe’) động tác sửa sai này là rất đáng mừng, vì người dân và doanh nghiệp sẽ có được cái quyền theo luật.

Thế nhưng việc bãi bỏ ‘chỉ thị’ vẫn không giúp vấn đề sáng hơn, do mục tiêu được gói trong cụm từ nhà cho người thu nhập thấp có chữ thì rõ mà nghĩa chưa rõ. Chưa rõ đây có phải là nỗ lực tạo ra (đi xây) loại nhà tiền nào của nấy không? Hay đây là chủ trương giúp người thu nhập thấp có điều kiện mua nhà? Là ai là người thu nhập thấp? Là lo cho tái định cư, công nhân viên, người nghèo hay các cặp sắp ra riêng? Là cần tiền, cần nhà, hay chỗ ở? Mục tiêu lẩn khuất nên cách làm chưa thuyết phục, nên hễ cứ cái gì làm được thì làm.. Thực tế triển khai trong điều kiện như vậy làm hẫng khả năng tiên liệu, hụt tầm kiểm soát. Thế nên tại nhiều diễn đàn, giải pháp nêu thì ít mà chất vấn lại nhiều, quanh quẩn cái lo lực bất tòng tâm, cái liệu ngân hàng lấy ngắn nuôi dài có rủi ro, cái băn khoăn xây ‘ốc cao cho thu nhập thấp’ có sẽ là ổ dơi ổ chuột?…

Đã vậy, thông điệp nhạy cảm từ ngọn cờ nhà cho người thu nhập thấp không ít lúc đã ‘tấn công’ thị trường bất động sản, đã đặt vấn đề về ‘chỗ đứng’ của thị trường này… Nào là thị trường phục vụ cho ai, người có ‘nhu cầu thực’ không mua được nhà; nào thị trường phát triển không đúng theo mức sống, GDP đầu người 500 USD mà giá nhà tỉ tỉ à (?)… Truy đến vậy thì chẳng riêng địa ốc, mà cả ô-tô, điện tử, v.v. cũng khó còn đất sống! Ta nói chuyện thị trường mà sao nghe như cấp phát! Sao cứ đánh đồng nhu cầu với tiêu chuẩn? Sao binh ‘nhu cầu thực’ mà bỏ ‘khả năng thanh toán’?. Chưa hết, thị trường cũng từng bị “rét” với các ‘răn đe uốn nắn’ (bị hăm bị hù) rằng sẽ có quy định này, áp thuế nọ, đòi giấy tờ kia… Chỉ riêng việc ‘tăng cường quản lý’ kiểu không ai chịu ai suýt nữa thì nhà đất đã một cổ ba tròng ‘hồng hồng, đỏ đỏ, xanh xanh’.

Trở lại vấn đề mục tiêu của chủ trương nhà cho người thu nhập thấp. Do cách hiểu thiên về ‘cái nhà’, việc triển khai có vẻ đã theo hướng ‘đi xây nhà’. Tuy nhiên, nhiều người e rằng đây không là cách làm căn cơ mà có thể là nguy cơ. Tại sao? Những khối nhà ‘điển hình’ này nếu không là tiền nào của nấy về chất lượng thì cũng dễ bị chết (mất giá trị) với cái tên thu nhập thấp. Cái vòng kim cô thấp và kém ở đây dễ tạo mặc cảm bị phân biệt, dễ là cái ‘sẹo’ về sau. Liệu điều này đã được tiên lượng và ta có vô tình đẩy cái khó xử về tương lai? Nhưng chẳng đợi đến tương lai… Nhiệt tình ‘đi xây nhà’ không khéo lại làm hỏng chính sách ngay trong thực tế dành ưu đãi cho người đi xây: Là nhà thu nhập thấp nhưng lời không thấp ấy mà!… Nhiều trường hợp được VTV ‘cận cảnh’ ở Hà Nội gần đây (2005) có lẽ chỉ mới là các ví dụ nóng mà ở TPHCM không phải đã khó thấy. Như vậy việc chăm lo có đúng người đúng diện, hay họ lại sẽ lãnh hậu quả?

Tuy khó phân định thế nào và ai là người thu nhập thấp, mục đích tốt đẹp của chính sách có lẽ không ngoài việc giúp người dân có điều kiện về ‘chỗ ở’. Việc ‘có chỗ ở’ có thể giống mà cũng có thể khác với việc ‘mua cái nhà’. Khác ở chỗ, chỗ ở có thể là để giải quyết cái ngặt, cho thuê hay cấp tạm cư, dự phòng thiên tai địch hoạ… Loại này chính quyền sẽ trực tiếp đứng ra lo bằng các khu nhà của mình. Còn việc ‘mua nhà’ nên để người mua kẻ bán quyết định sẽ hay hơn. Ở đây toát lên hai ý lớn: Một là nhiệm vụ của nhà nước đối với xã hội; và Hai là yêu cầu về vai trò xúc tác của nhà nước để tạo ra và nuôi dưỡng một hạ tầng tài chánh địa ốc. Ý thứ nhất để giải quyết chỗ ở, ý thứ hai để giải quyết cái nhà. Thị trường sẽ biết cách tạo ra phân khúc cần thiết, và sự vận động tự nhiên của phân khúc này sẽ hoá giải nhược điểm ‘tập trung thu nhập thấp’. Đỉnh cao của cách làm sẽ là một bối cảnh tài chánh có tính tiện ích, đặt nền tảng phục vụ các đối tượng ‘thu nhập thấp’ (thu nhập cố định) nhưng có thể không dành riêng cho ai; tuy vậy, người có điều kiện khá thường ít cần hơn… Tương tự như phương tiện xe buýt vậy, ai cũng đi được nhưng nhà giàu có thể ít đi.

Tới đây, câu hỏi có thể sẽ là tiền đâu? Việc này đòi hỏi nhiều nỗ lực đồng bộ của nhà nước. Kinh nghiệm tạo dựng một hạ tầng tài chánh địa ốc liên tục và dài hạn không còn lạ gì tại nhiều nước và ta có thể mô phỏng áp dụng. Nguyên lý chung là dùng uy tín nhà nước, theo cách trực tiếp hay bảo trợ, để thu hút tối đa các nguồn; tổ chức một hệ thống vận hành theo chức năng nhưng liên thông, trong đó có các định chế trung gian. Ví dụ, hệ thống ngân hàng chuyên ngành (home loan bank system – HLBS) để tạo nguồn ổn định, kế đó là các tổ chức tài chánh đặc dụng (như S&L, REIT, REMIC) để phục vụ trực tiếp. Đây chính là hạ tầng chứng khoán nuôi thị trường địa ốc, mà gần đây ở ta có cách gọi thời thượng (hơi cường điệu) là ‘chứng khoán hoá’. Bối cảnh hoạt động tuy là theo thị trường nhưng không thể thiếu yếu tố tác nhân nhà nước. Đáng lưu ý, sở dĩ hạ tầng này vận hành tốt ở xứ người là nhờ các nhà nước họ chú trọng kinh tế vĩ mô chứ không ôm đồm ‘vi mô’ như ở ta. Về phía người dân, nhờ có sự nhẹ gánh thanh toán và lãi thấp (có thể trên 30 năm với lãi suất xấp xỉ tiết kiệm) ai cũng có điều kiện mua nhà, miễn là chịu cày. Họ cũng sẽ cân nhắc thuê hay mua, chọn nhà đẹp giá thấp hay nhà hẹp giá cao. Chính đây là ẩn số thú vị của vấn đề. Ví dụ, một biệt thự ở Thảo Nguyên Sài Gòn (cty NamLong) thuộc loại sang trọng giá lại thấp hơn một căn phố trong hẽm tại các quận cũ. Việc chọn Quận 9 hay Quận ‘10’ vậy là thử thách…

Cũng là vai trò xúc tác, nếu Thành Phố thực hiện tốt việc quản lý đô thị theo chức năng, lo đường sá, tiện ích đi lại; các mặt an sinh, trường học, bệnh viện, chợ búa; không nặng nề hộ khẩu.; chú trọng nối kết hạ tầng với các vùng giáp ranh Bình Dương, Đồng Nai, Long An… (kể cả métro cũng rủ nhau kết nối chứ không ôm một mình) thì chẳng cần ‘bao cấp’ 80.000 căn hộ ‘thu nhập thấp’ (chỉ tiêu đến 2010) cũng sẽ có đủ chỗ ở giá thấp theo yêu cầu. Bên cạnh việc nhường cái lo này cho thị trường, cũng nên chấm dứt việc ‘đền nhà’ cho tái định cư, cần sòng phẳng nếu không lại sẽ ‘bắt cóc bỏ đĩa’. Cũng chẳng nên gọi là ‘nhà…thu nhập thấp’. Tại sao? Hãy nhìn khách hàng một khu ‘cao ốc thu nhập thấp’ gần đây sẽ rõ. Đa số họ là các ‘cặp’ có thu nhập tháng gộp lại tròm trèm 700~1.000 USD hay hơn. Vậy thì đâu có thấp… Vấn đề giá có khi lại chỉ là diện tích và tiện ích. Vã lại, nếu vài ba trăm triệu đồng chỉ mua được căn hộ nhỏ tại các quận xa, thì cũng chừng đó tiền người ta có quyền hưởng ‘sân vườn’ tại các vùng tiếp giáp Sài Gòn. Nhưng tâm lý ngại ở tỉnh, sợ bị cắt hộ khẩu… còn quá nặng. Do vậy, chỉ cần ‘vùng trọng điểm’ mà kết nối được ‘một nhà’ thì giấc mơ biệt thự sẽ chẳng xa tầm người ‘thu nhập thấp’. Tiếc rằng, nếu cả châu Âu người ta đã mở toang biên giới thì vùng đất cách nhau chỉ vài chục cây số quanh ta lại còn ‘đèn nhà ai nấy sáng’!…

Sài Gòn cũng cần nghĩ đến việc để dành đất. Việc để dành đất kết hợp với quyết tâm xây cái đáng xây, chứ đừng nay hướng sang Đông mai kéo về Tây, là vấn đề cần đăt lên bàn sớm trước khi quá muộn. Chiến lược này tương tự việc để dành dầu lửa dưới lòng đất của các nước lớn vậy.

Huy Nam, CV kinh tế và chứng khoán TPHCM
12-2005

(TBKTSG số kỷ niệm 15 năm 29-12-2005)

 

Đi bộ – Vỉa hè

Đi bộ và …cái vỉa hè

Được nâng lên thành môn thể thao thời thượng, đưa vào sách vở như một liệu pháp y khoa, ngày nay nhắc đến đi bộ là nhắc đến sự vận động cơ thể. Đi bộ vì sức khỏe như vậy đã ngấm sâu vào suy nghĩ mọi người, làm ta quên mất đi bộ là một phương thức giao thông cơ bản.

Lâu nay phương tiện giao thông thường được hiểu là tàu xe. Ở thành phố phổ biến là xe máy, xe hơi, xe buýt và tàu điện. Cũng vậy, hạ tầng giao thông được nói đến là đường bộ và đường sắt. Việc đi lại khó khăn tại các thành phố lớn nhiều lần đã được đặt lên bàn mổ với các tranh luận nảy lửa: bắt tội chiếc gắn máy, đổ lỗi chiếc xe hơi, hết kêu thiếu đường lại hiến kế đừng mở thêm đường, người bảo ‘giãn ra’ kẻ đòi ‘nén lại’… Việc đi tìm giải pháp do vậy như đi vẽ tranh lập thể. Kết quả là ùn tắc đã ‘giảm’ thành… ùn ứ.

Điều đặc biệt, trong các tranh luận kịch liệt có phần đối kháng ấy, hầu như không ai đá động gì tới phương thức đi bộ, ít khi nghe nhắc tới cái lề đường hay hè phố, vốn là cấu phần thiết thực, thiết yếu và tự nhiên trong giao thông đô thị. Cũng chưa có ai nghĩ nguyên nhân kẹt xe, kẹt đường thực ra còn là vì người ta không đi bộ và do ‘thiếu’ cái vỉa hè. Không đi bộ và thiếu cái vỉa hè, đường sá sẽ tiếp tục bị nguyền rủa và xe cộ vẫn cứ là tội đồ.

Đi chừng cây số cũng xe hơi, vài trăm mét đã gắn máy. Cứ ngồi xe ‘ơi ới gói mì’ thì lập tức ‘chờ chút có ngay’. Quá tiện thì ‘ngu’ gì đi bộ. Trật tự đô thị cứ thế bị thói quen tùy tiện phá vỡ. Hè phố bị chia cắt, rộn kẻ mua người bán, loạn chỗ uống ăn, ngổn ngang hai bánh. Thật đáng trách nhưng đáng tiếc: Trong khi ta có ‘năm bảy đầu quản’ thì lại thiếu ‘một đầu làm’. Được buông lỏng thì dại gì không tranh thủ… Vậy là mặt tiền chường ra, phương xa kéo về. Đã vậy, do bị xem là phụ, chất lượng xây dựng cái vỉa hè dễ bị qua loa cho có. Mấy ông điện nước cũng chẳng vừa gì, cạm bẫy không giăng trên đầu thì cài dưới đất, đẩy người đi bộ xuống đường.

Thành phố mà người đi bộ phải xuống đường chen chân với xe cộ thì có là đáng sống, có sẽ hòn ngọc Viễn Đông, có tương tầm ngàn năm văn vật?… Kiếm vài hè phố thong dong bách bộ tại các thành phố ở ta nay rất khó, may ra có lẽ chỉ Vũng Tàu? Việc các em thanh niên xung phong trực dắt khách ngoại qua đường tại trung tâm Sài Gòn nếu từng được biểu dương một thời thì ngẫm lại thấy kỳ cục. Cũng tiếc cho phố đi bộ Nguyễn Huệ của Sài Gòn. Nó thiếu cái hồn, bị chia cắt không gian, lọt thỏm giữa hai đường xe chạy, xa rời tiện nghi mua sắm… Trên thế giới, không gian tản bộ là khu liên kết đến tận cửa hiệu cửa hàng, để thu hút khách thập phương đến xài tiền, thư giãn mua sắm và hưởng chút nhàn du. Không thấy có việc lò cò, nhún nhảy, đá cầu… Ở đó không còn khái niệm vỉa hè nên người ta gọi là khu (zone) chứ không là đường phố (street).

Nước Úc đất rộng người thưa, đường sá đồi dốc, nhưng học sinh có nhà trong tầm hai cây số sẽ được khuyên nên đi bộ đến trường. Cho dù xe hơi đã như cái chân đi, không vì thế mà xe buýt ở họ kém tấp nập. Ngẫm lại ở mình, ta cổ xúy đi buýt nhưng nếu tôi và con cháu mình hưởng ứng ‘buýt’ thì làm cách nào đến trạm? Xuống đường luồn lách ư? Không dám. Thế là, bên cạnh cái nhược chất lượng, sự bất tiện bất an đi bộ làm ta không thể …buýt. Đi bộ là để kết nối với tàu xe, không đi bộ được thì buýt sẽ ế và xe máy lên ngôi. Đường trên cao nay có chăng là bước lùi giao thông đô thị, đặc biệt ở nội đô? Việc giải quyết ô nhiễm, bức hại cảnh quan, nỗ lực hạn chế xe riêng và chỗ đậu sẽ là vấn đề. Đường bộ trên cao là giải pháp thực dụng chẳng đặng đừng mà thế giới rất rất cân nhắc, thường họ nói không (như Âu Mỹ) hoặc chỉ ngoài rìa như ở Á đông.

Suy cho cùng, việc khiếm dụng phương thức đi bộ và hạ tầng đi bộ là nguyên nhân sâu xa của nhiều bế tắc trong nỗ lực cải thiện giao thông. Đây là chỗ khuyết cần nhận diện tận tường thì giải pháp mới căn cơ, đặc biệt là trong việc phát triển tàu xe công cộng. Mặt khác, việc người dân không đi bộ, không thể đi bộ, lười đi bộ, là thực tế cần được điều chỉnh. Tình trạng bám víu hè phố làm xấu mặt đô thị không thể cứ tồn tại. Xe chạy đã có đường, mua bán có chỗ, việc ngồi xe mua sắm, ăn vạ chỗ để xe không thể cứ thông cảm. Sự nghiêm minh sẽ cần, để tôi và chúng ta tự điều chỉnh, để trật tự và nề nếp mọc lên. Việc trả lại dân đường thông hè thoáng để đi bộ sao không là cách, mà lại sáng kiến “phân ô, kẻ vạch vỉa hè cho đậu xe mua bán” nghe lạ!

Nhiều khách lần đầu đến Việt Nam, bên cạnh sự sợ hãi khi ra đường, họ còn phàn nàn về sự không nề nếp, thiếu kỷ luật ở mình. Lề đường và vạch đi bộ qua đường đều trở nên vô dụng. Ai cũng biết xấu hổ mà không sửa. Tình trạng coi thường, tước bỏ quyền đi bộ hay thậm chí bắt nạt người đi bộ là có thật. Tôi đã chứng kiến cảnh một phụ nữ đứng lại chặn xe và làm dữ bác tài khi bà bị thúc còi giữa vạch đi bộ. Chuyện này xảy ra ở Thảo Điền và của một bà Tây. Tôi kể chơi vậy thôi, chứ ai bắt chước bà ta thì coi chừng… Ngược lại là tại Macau, lần nọ tôi sượng đến ‘đứng hình’ và ngớ người ra, do mình chưa có ý định qua đường mà đã đứng trước vạch đi bộ làm cả dòng xe dừng lại… Không ngờ người Macau lại lịch sự vậy. Ở các nước phát triển điều này đã là tập tính, họ phản xạ tự nhiên không cần xưng tụng văn minh. Dưới lòng đường đã vậy thì không cần nói ra ta cũng có thể hình dung trên vỉa hè họ chăm chút thế nào.

Ngoài sự kiên định kiên trì di dời các trường đại học, bệnh viện, cơ sở mua sắm đông đúc ra ngoại đô, hoạt động kinh doanh nội đô cũng cần đặt ra điều kiện phải có chỗ để xe cho khách, nhất là về ăn uống. Đây là quy định được nhiều nước áp dụng nghiêm (như Úc và Tây Âu). Kỷ cương, kỷ luật và trật tự nghiêm minh sẽ hướng việc kinh doanh vào nề nếp, ăn uống có nơi mua bán có chỗ, không bạ đâu đáp đó, mỗi chút mỗi ngồi xe. Lúc này thói quen đi bộ sẽ được tái lập, phương tiện cá nhân sẽ giảm, diện tích mặt đường sẽ tăng và tàu xe công cộng sẽ có cơ phát triển. Một đô thị văn minh và đáng sống sẽ cần bắt đầu từ cái lề đường vậy…

Mọi việc lại đều thuộc chức năng và đang nằm trong tay giới quản lý đô thị. Vấn đề là sự quyết đoán, hành động triệt để và toàn diện. Bệnh đã trầm kha thì đừng mong nó sẽ ‘tự giác’ hết, mà sẽ cần can thiệp liều cao. Tôi viết bài này sau khi nghe ba người bạn doanh nhân Đức kể lại những “thú vị” việc họ đi bộ từ Sheraton đến cuối đường Pasteur Sài Gòn để khám phá và ăn phở…

Huy Nam

(Thời báo KTSG, số đặc biệt Chào Năm 2017)