Nhà báo viết CK

Quê hương hơn một…

Quê hương hơn một…

Tôi đang ở trong lòng đất nước… Tôi được sinh ra tại một nơi, lớn lên đi học, đi làm vài nơi, và có thể về già tại nơi khác. Đời người trôi dạt vậy nên có lắm quê. Thế nhưng, nếu quê cha, quê mẹ, quê nhà đã thấm vào máu thịt, thì xưa nay ta lại như vô tình với quê mình, với cái quê đã cưu mang mình. Sống gần trọn đời tại một nơi thì đó có thể vẫn chỉ là đất khách, chưa ai nhận nơi ấy là quê cả…

Đùm anh như con, bọc anh như ruột thịt, thế mà anh cứ hồ mơ ‘viễn xứ’… Đất khách trách anh đấy! Cho dù quê có là gốc, việc ta gọi nơi đùm bọc mình là đất khách hay quê người là không công bình. Gởi thân, đặt phận, rồi sinh con đẻ cái ở đó, sao ít ra ta không gọi nơi ấy là ‘quê con’ nghe cho có tình? Mà quê đâu hẳn đã là gốc, bởi nếu không vậy thì sao nhiều lúc ta còn gọi là ‘quê gốc’? Tuy vậy, cứ cho quê là gốc và mỗi người chỉ một quê, thì một đời người dọc ngang đất nước lại có thể có nhiều đất khách. Đất khách không là quê, nhưng lẽ nào đó không lại quê hương? Quê hương cả đấy chứ. Vậy sao ít khi nghe anh nói yêu cái ‘đất khách’ ấy, mà lại thường thao thức ‘quê hương’. Quê hương buồn anh đấy! Quê hương đâu chỉ một, quê hương đâu chỉ là cái nôi bồng bế tuổi thơ anh… Quê hương hơn một. Quê hương hơn một nhưng không là hai… Từ quê đến quê hương như vậy có thể sẽ ‘lắm chuyện’, hờn giận không chừng. Nhưng biết đâu những ‘lời qua tiếng lại’ ấy sẽ là dịp để ta ‘ngộ’ quê hương và yêu quê mình, để tôi tìm thấy ta trong quê hương hơn một…

Theo khái niệm thông thường, là nếp nghĩ hay lý lời của thơ nhạc, thì quê hương được xem là quê nhà. Đó là nơi ta sinh ra, là đồng quê, lũy tre, khói lam chiều hay con diều biếc… Quê hương như vậy gần với những hòai niệm của lớp già, là cố hương. Đó có vẻ là những thứ của người lớn nhớ lại hay vẽ ra, rồi bắt con cháu của mình, kể cả các em được sinh ra và lớn lên ở phố, cũng phải có khái niệm giống vậy. Và cứ vậy, ta chẳng cần biết thực ra quê hương không nhất thiết chỉ là cái gì đó rất quê, hay phải thơ mộng, mà đó có thể là nhọc nhằn, trăn trở… Người Úc đã khoe quê hương mình là ‘cháy nắng, hiểm trở, hạn hán, mưa lũ, cuồng nộ’(*), tòan là khắc nghiệt, và họ đã quảng bá thông điệp này ra thế giới. Tiếc là ở ta rất ít (hay chưa) thấy có các khái quát bay bổng về quê hương Việt Nam để các em, từ đồng bằng đến phố thị, khi đọc lên hay ngân nga sẽ có cùng cảm nhận và hình tượng đúng về đất nước mình.

Đất nước thì ở đâu mà chẳng quê hương… Ai cũng nói vậy, nhưng rồi những khuôn thước xưa và quan niệm hành chánh nay tiếp tục làm cho quê hương bị nhỏ hẹp trong mỗi người. Tuy vậy, quê hương theo khái quát xưa, là làng thôn hay rộng hơn là miền đất, chỉ là ước lệ về một không gian để vỗ về kỷ niệm. Tình yêu hay tấm lòng dành cho quê hương do đó dễ vô tư. Những rung cảm qua niềm thương nỗi nhớ hoặc chút tự hào hướng về quê nhà như vậy là hồn nhiên và đáng quý. Quê hương ấy tồn tại tự nhiên, không đóng khung hay bị phân ranh, không gói con người ta thành các gói nhỏ ‘địa phương’. Nay thì hơi khác… Không ít lúc ta khiên cưỡng lồng quê hương trong các địa giới hành chánh. Quê hương ‘biên chế’ theo các không gian ‘chỉ là để cho tiện quản lý’ ấy không ổn định. Tình yêu quê hương do vậy dễ bị ‘cuốn theo chiều gió’ nếu cứ thế mà ta dời đổi theo. Tình yêu ấy nếu phát triển quá đáng dễ biến thành ước muốn ‘thể hiện’, làm ta rơi vào cục bộ mà không hay! Trong môi trường quyền lực, tình tự quê hương đóng khung còn có thể dẫn đến các hành xử thiên lệch, thiếu khách quan… Nghĩa đất tình quê trong các điều kiện như vậy sẽ kém dần ý nghĩa.

Mặt khác, nếu địa giới hành chánh bị lẫn lộn với địa dư kinh tế (hai khái niệm này khác nhau), và/hoặc một quan niệm thái quá về ‘sức mạnh kinh tế địa phương’, có thể tạo tâm lý tự lập, cát cứ… Các tranh thủ phi kinh tế, sự cạnh tranh giữa các không gian kinh tế hẹp, chẳng những gây phí phạm mà còn có thể triệt tiêu lợi thế của nhau, thậm chí hại nhau. Điều này làm cho các nguồn lực hay lợi thế kinh tế theo địa dư kém phát huy. Cảng biển miền Trung và việc khai thác sông Đồng Nai là các ví dụ. Hoặc, việc xúc tiến đầu tư do mạnh ai nấy làm nên khách đến đâu chỉ được biết đó. Chuyện kế bên là của kế bên… Hiện ta có tới 64 cái kế bên như vậy! Đáng nói, thứ sản phẩm chủ lực mà nơi nào cũng có ‘thế mạnh’ để chào mời lại thường chỉ là… đất. Thử so sánh với Trung Quốc để ngẫm ta ‘to’ cỡ nào. Trung Quốc với 1,3 tỷ dân nhưng chỉ có 36 tỉnh, còn Việt Nam chừng hơn 80 triệu dân lại có đến 64 tỉnh thành! Thời ‘internet’ mà tỉnh còn ‘lẻ’ quá thì e chưa thuyết phục. Đã vậy, cuộc rượt đuổi cái ‘anh có tôi có’ giữa những đầu mối kinh tế ấy đã để lại những ‘đích đến’ cười ra nước mắt. Ngòai sự thảm hại của nhiều ‘ngành công nghiệp tỉnh’, thông tin về việc tranh thủ ‘nắn’ đường Trường Sơn ‘quẹo’ vô tỉnh mình cho thấy cái tâm có thể đã hại cái tầm!

Địa giới hành chánh không là quê hương mà chỉ là địa phương. Biết vậy, nhưng nhiều nơi vẫn cứ dựa vào đó để cổ xúy tự hào. Tự hào mà đi cặp với địa phương thì ôi thôi dễ ghét, vì sẽ lạm phát những ‘cái rốn’. Tình cảm tự hào là tốt, nhưng thái quá có thể làm cho ta khó gần người và người cũng khó gần ta. Sự tự hào như vậy lại dễ bị tổn thương hay hụt hẫng khi không gian hành chánh thay đổi. Chẳng hạn, Quảng Nam xưa là miền đất từ Hải Vân đến Dốc Sỏi, và tình đồng hương cũng trải dài như vậy. Nay, miền đất này đã ‘bị’ tách thành các tỉnh nhỏ thì lẽ nào vì cái ‘hộ khẩu’ mà người dân ở đó sẽ hết đồng hương?

Chẳng khác niềm đau nỗi xót, thực tế hễ cứ chia tách tỉnh là có ngay việc phân biệt quê này quê nọ. Và điều này còn có thể đã làm cho nhiều người mất ngủ trước các đợt ‘bố trí’. Chuyện vừa nói không còn lạ và đã di căn vào lắm ngõ ngách… Nhưng đó là việc khác và sẽ chưa là điều gì buồn xót đối với nhiều tấm lòng nếu không có việc tách hội đồng hương. Đồng hương, sao lại tách? Tình đồng hương chứ sao ‘tình tỉnh’?! Thế đấy, một quan niệm quê hương hẹp, nói chung, có thể làm tổn thương tình quê hương đích thực. Quê và quê hương, không tách rời và đừng bỏ sót.

Sống quê mình, yêu quê hương, nhớ quê nhà… Quê nhà quyện trong quê hương, trong quê hương có quê mình… Quê hương rộng hơn nơi tôi nhớ và ‘nhiều’ hơn nơi tôi sống. Quê hương hơn một là quê hương để mở lòng… Để tôi không vô tình với nơi cưu mang tôi, với nơi tôi sẽ đến trên đất nước này. Đó là nơi để ta yêu chứ không chỉ nhớ.

Huy Nam, CV kinh tế và TTCK TP.HCM
TBKTSG, Xuân At Dậu 2005
Tác phẩm đoạt Giải nhất Giải Báo Chí TPHCM 2005
Được in lại trong cuốn Ẩn Số Động Lực Trong Phát Triển Kinh Tế (NXB Thanh Niên, 2007) và cuốn Hai Mươi Bốn Giờ Một Phút (TBKTSG-NXB Trẻ, 2010)

 

(*)
Tôi yêu quê hương cháy nắng
Những cánh đồng bằng phẳng bao la
Những núi non hiểm trở tự ngàn xưa
Những mưa lũ, những ngày hạn hán
Những chân trời kéo dài vô tận
Những biển xanh ngà ngọc xanh tươi
Vẻ yêu kiều, cả những cơn cuồng nộ của quê hương
Yêu biết mấy dãi đất nâu rộng lớn
(‘Đất nước tôi’, nữ sĩ Dorothea Mackellar, do Dr. Phạm Vũ Thịnh phỏng dịch)

Nguyên bản:
I love a sunburnt country
A land of sweeping plains,
Of rugged mountain ranges
Of droughts and flooding rains.
I love her far horizons
I love her jewel-seas,
Her beauty and her terror
The wide brown land for me.
(My Country, Dorothea Mackellar)

 

Người cha thầm lặng

Người cha thầm lặng…

Tôi định viết về ông đôi lần, nhưng thôi, do nghĩ đây là chuyện riêng tư. Bởi, tuy có một tính cách lớn, một tấm lòng cao thượng, là ân nhân của hằng trăm gia đình cùng cực trên đất nước này, ông lại rất thầm lặng, ngại ồn ào và chưa bao giờ tiếp xúc truyền thông.

Ông là một doanh nhân Úc, là CEO một công ty cung ứng thiết bị máy xây dựng hàng đầu thế giới có trụ sở tại Hà Nội. Năm 1997, trong một chuyến thăm Việt Nam, khi biết người hướng dẫn mình là một sinh viên có hoàn cảnh vô cùng khốn khó, ông đã đề nghị trợ giúp để em học đại học. Điều này không có gì lớn với ông, nhưng lại quá lớn, quá bất ngờ đối với một sinh viên nghèo hiếu học.

Một thời gian sau khi ông sắp quên chuyện cũ thì em sinh viên ông giúp ngày nào đã tìm lại ông. Lúc này em đã ra trường, đã có việc làm ổn định. Và điều gì em đem đến ông không là lời cảm ơn, cũng không phải món quà cảm tạ, mà chỉ để xin được gọi ông là cha (daddy). Khoảnh khắc hạnh phúc ấy làm ông xúc động, thoáng như lời kêu gọi, rằng còn nhiều em khác đang cần ông, bởi đây không là cá biệt… Chính cái nặng lòng này đã kéo ông trở lại Việt Nam làm việc cực hơn, ở lại lâu hơn, trực tiếp chia sẻ với người bất hạnh, cụ thể là nuôi sinh viên. Dấu ấn của người cha tôi muốn kể là đây…

Những sinh viên được ông nuôi là những em có gia cảnh đặc biệt khó khăn. Nhẹ là các trường hợp không đủ cái ăn, cái mặc, là lây lất qua ngày, và chuyện học hành trở nên xa vời. Nặng thì vô cùng: Là ung thư, tật nguyền, tàn phế, tai ương, neo đơn, mồ côi, không nơi nương tựa. Tuy vậy, ông chọn rất kỹ, có tiêu chí rõ ràng. Để cho chắc, lúc đầu ông phải nhờ cộng đồng người Việt ở Adelaide tư vấn về thông tin và cách xét. Theo đó, chỉ những em đậu đại học và cao đẳng mới được chọn. Bởi ông nuôi bằng tiền túi của mình, không ai bảo trợ, nên không thể mở rộng. Các em sẽ được nuôi ăn học cho đến khi tốt nghiệp, được tiếp sức đến nơi đến chốn để về sau có thể tự sống, tương trợ và giúp người cùng khổ khác.

Trong hơn mười lăm năm qua số sinh viên ‘trúng tuyển’ vào gia đình ông đã lên đến 650, trải dài 45 tỉnh thành từ Bắc tới Nam. Bình quân mỗi năm có hơn 50 em được nhận thêm và cũng khoảng chừng đó em tốt nghiệp đủ ngành nghề. Không ít trong số này nay là các kiến trúc sư, bác sĩ, kỹ sư giỏi, thành đạt và đã có gia đình. Điều đặc biệt, mặc dù rất bận rộn với công việc điều hành doanh nghiệp, phải di chuyển liên tục trong ngoài nước, ông vẫn dành thời gian đi thăm từng gia đình, dự đám cưới các em, không ngại ngồi ăn chung hay thậm chí nghỉ lại tại một mái nghèo nào đó. Rất bình dị!

Bên cạnh việc nuôi các em ăn học, ông còn làm nên nhiều điều kỳ diệu. Câu chuyện về em bị dị tật ở Đồng Nai là một ví dụ. Em này có đôi chân co quắp, từ nhỏ đến lớn chỉ có thể bò chứ không đi được. Thấu hiểu ước mơ em và nỗi đau của gia đình, ông đã ra tay cứu giúp (gọi là cứu mới đúng). Năm 2008, ông bụt này đã đưa em sang Úc, cho ăn ở nhà mình, thu xếp bác sĩ giỏi và cơ sở chỉnh hình tốt nhất tại Sydney để hội chẩn, tiến hành nhiều bước phẫu thuật phức tạp, thực hiện các kỹ thuật tái lập đồng thời, để đôi chân em có thể duỗi ra và đi đứng được. Quá trình này kéo dài hơn một năm và tôi chắc rất tốn kém. Nhưng chính lòng nhân từ, sự quyết đoán kiên trì của ông mới đáng phục. Bởi không chỉ có lạc quan, bởi ngay giới phẫu thuật Úc cũng thấy đây là ca khó và kết quả đạt được là ngoài mong đợi. Giấc mơ ‘hóa kiếp’ ông đem lại cho em thật là kỳ diệu! Được biết, lâu nay em này đã có thể đi xe máy ngon lành và đang làm việc tại một công ty ở KCN Amata.

Những câu chuyện vượt lên số phận như vậy còn nhiều… Có em đã ví đó như chuyện thần tiên của ngày xửa ngày xưa, với fairy tale và once upon a day… trong một bài viết bằng tiếng Anh của mình.

Tôi gặp ông và đã trở thành thân thiết khoảng hơn mười năm nay. Tại Úc, các con tôi cũng gần gũi và rất quý mến ông, nên hễ có dịp là chúng tôi tới lui chia sẻ nhau. Tháng 7-2010, sau khi dự một sự kiện gia đình cùng chúng tôi tại Wollongong, trên đường cho cả nhà tôi quá giang lên Sydney để bay đi Melbourne, ông nói vui ngày mai chiếc xe này của tôi sẽ có chủ khác… Lúc ấy tôi mới hay đó là thời gian ông thu xếp nhiều việc tại Úc để đến Hà Nội với dự định sẽ ở lâu tại Việt Nam.

Năm ngoái, trong một dịp ra Hà Nội làm việc, tôi gọi điện mời ông cùng đi ăn tối thì ông lại kéo tôi về ăn tại nhà mình. Căn nhà nhìn ra toàn cảnh Hồ Tây trông thoáng đãng, hao hao như có chút biển trời của khu Vaucluse sang trọng tại mạn đông Sydney nơi ông ở.

Ngày nay, vào các dịp ‘sum họp’ hằng năm tại Sài Gòn và Hà Nội, gia đình ông còn có thêm nhiều dâu, rể và các cháu nội, ngoại. Vài thân hữu gần gũi, trong đó có tôi, cũng được ông mời dự như chú bác của các em. Đây là dịp ông truyền thêm sức sống cho các em. Thông điệp mà ông thường nhắc là “dream, believe and do”, và hình tượng ông thích trưng dẫn để động viên các em vươn lên là biểu tượng chuột túi kangaroo và chim emu của Úc, là những con vật có đặc điểm chỉ đi tới chứ không bước lùi. Gần đây ông bắt đầu quan tâm nhiều đến việc làm của các em…

Chắp cánh ước mơ là cách dùng phổ biến khi các em kể lại bước ngoặt làm thay đổi đời mình… “Dad không chỉ giúp tài chính cho sinh viên mà còn là người cha tuyệt vời, là chỗ dựa vững chắc và là tấm gương để chúng con noi theo. Dad là người cha đặc biệt, đã chắp cánh ước mơ cho rất nhiều sinh viên Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước”. Những lời lẽ đẹp và chân thành tải đi lòng biết ơn của các em với người cha Úc ấy đã được các em tập hợp thành một tập sách dày nhiều trăm trang, coi đó như món quà tinh thần tôn vinh ông. Tôi đã đọc những dòng cảm động của một em gái tên Duyên ở Bến Tre: “Cha tâm thần, mẹ ung thư giai đoạn cuối và mất chỉ ba ngày trước ngày em thi vào đại học… Trong hoàn cảnh khốn cùng ấy ông đã cưu mang cả nhà em, an ủi em khi bế tắc, vực em dậy lúc suy sụp. Nay em đã ra trường, tự tin sống tốt. Tất cả là nhờ công ơn Daddy”. Em kể trong nước mắt…

Theo nguyên lý kinh tế, lạc phúc cho bởi những đồng tiền vượt xa ngưỡng thỏa mãn sẽ ít dần, ít dần, và sự hoang phí rất dễ xảy ra. Tuy nhiên, nếu chúng được sử dụng để mang lại điều tốt cho xã hội, cho tha nhân, thì lạc phúc sẽ được nhân đôi. Đây có chăng một triết lý kinh tế phước thiện, chút thăng hoa của sự nghiệp kinh doanh, toát lên phẩm giá cao đẹp của doanh nhân sau thành đạt…

Quý mến tấm lòng nhân ái của ông tôi trộm viết bài này. Và do viết từ xa nên khó tránh thiếu sót. Xin ông bỏ qua nếu có điều không phải. Đến đây, dù rất muốn nêu tên ông tôi vẫn không thể, vì biết ông thầm lặng. Nhưng với 650 đứa con và chừng ấy gia đình thương mến ông, tôi chắc ông hạnh phúc…

Huy Nam

 

Việt kiều Mỹ gốc Hoa

Việt kiều Mỹ… gốc Hoa

Cơ sở của người bạn ấy ở San Gabriel, Orange County, bình thường có hơn chục nhân viên. Anh làm dịch vụ trang bị kỹ thuật cho ngành tạo mẫu may mặc. Công việc ổn định và khá bận rộn. Nhưng sau ‘cơn bão’ hồi tháng 9-2008 tình hình đã xấu đi nhanh. Khách hàng giảm mạnh, nhân viên chỉ còn vài ba người gọi là để duy trì, và không có anh thì cũng chẳng sao. Thế là anh quyết định về Việt Nam chơi và thăm chúng tôi.

Gọi là thăm chúng tôi, vì gia đình anh không còn ai ở Việt Nam. Tại nước nhà chỉ còn tôi và một người bạn khác là chỗ thân thiết của anh. Chúng tôi là bạn hồi còn học đại học. Anh dung dị, bình thường, chẳng phải người học cao hay xuất sắc gì về phương diện sự nghiệp. Nói rõ hơn, anh chẳng có gì nổi bật để tôi có thể viết về anh. Nhưng khi gặp lại và nói chuyện với anh, tự nhiên tôi bị thôi thúc viết. Anh không có gì đặc biệt, nhưng anh là một trong số những người Việt đặc biệt đang sống ở nước ngoài…

Những người Việt ấy có tình tự đan xen, lặng thầm nỗi niềm ‘tôi là ai’ day dứt với đường xưa lối cũ… Họ thấy gì khi nhìn lại phía sau mình, nghĩ gì khi quay về gốc gác là điều còn ẩn giấu. Như anh bạn đang ngồi với tôi đây, anh nghĩ gì về nơi chôn nhau cắt rốn, cảm nhận thế nào về chốn cũ quê nhà… thì khó mà biết được. Cho dù anh được sinh ra và lớn lên ở đây, dù phần đời và tình cảm ấy cứ mãi in đậm và bám chặt theo anh, nhưng anh lại không như những người Việt xa xứ khác. Tại sao? Vì anh gốc Hoa, ba mẹ anh là người Hoa xưa kia sinh sống ở Chợ Lớn. Vợ anh cũng vậy, từ nhỏ đến khi trưởng thành hầu như chỉ sinh hoạt trong cộng đồng người Hoa, và chị ta cũng chẳng còn ai gần gũi ở đây. Nay anh chị lại là dân Mỹ, từ lâu mang quốc tịch Hoa Kỳ, sinh con đẻ cái bên ấy, và cả đại gia đình lâu nay cũng sống ở Mỹ. Hoàn cảnh như vậy làm tôi cứ ngờ ngợ tình cảm quê nhà liệu có nhàn nhạt trong anh …

Thế nên, trong một dịp cùng đi Vũng Tàu chơi, tôi bất ngờ hỏi: Hiện nay mày nghĩ mày là người gì? Nói bất ngờ, nhưng câu hỏi này tôi đã định bụng sẵn và đề nghị anh trả lời nhanh. Và anh cũng đã trả lời nhanh: Thì tao là người Việt, là người Việt chứ, ba mẹ tao cũng Việt… Sau một chút ngập ngừng, anh tiếp “người Việt gốc Hoa, công dân Mỹ, nhưng con tao thì không phải như tao…”. Tôi cảm thấy vui vui và xúc động. Vì dù rất lâu mới gặp lại và chúng tôi không thấy có khoảng cách nào, cách nói của anh cho thấy ít nhiều tấm lòng người bạn thân của mình vẫn còn đặt ở đây. Cảm nhận gần gũi thoáng chút quê nhà như vậy sau đó còn nhiều và tự nhiên hơn. Có thể bắt gặp qua cái hồn tiếng Việt lúc anh nói chuyện, sự chân thành trong giao tiếp bạn bè. Chúng tôi đã rủ nhau đi ‘xe đò’ về thăm trường cũ. Những ngày lưu lại Đà Lạt thật quí giá và cảm động. Khi đám ‘qủy’ cùng lớp đàn hát với nhau, anh cũng nghêu ngao cho tới khuya, với những “em tan trường về, …adieu jolie candy, …tôi sẽ đi thăm”…

“Mấy chục năm sống ở Mỹ mà mày vẫn rất Việt”, tôi nói, “Việt chẳng thua bọn tao và có thể còn hơn nhiều người không phải Tây”… Ồ không, anh đỡ lời, “ngay người Mỹ thì bình thường họ cũng đâu có khác quá như mình nghĩ”. Thật vậy, đừng nhìn Las Vegas mà tưởng dân Mỹ ăn chơi hưởng thụ. Tại không ít bang ở Mỹ, casino và các hoạt động văn hóa kém lành mạnh lâu nay vẫn không có đất sống. Đừng thấy xe hơi nườm nượp trên đường mà nghĩ người Mỹ xài sang. Có lẽ không phải vậy. Đó chỉ là khía cạnh của nếp sống tiện nghi, hay do nhịp độ xã hội họ quí sự riêng tư thôi. Họ đi xe nhiều cũng có thể vì xe rẻ, đường sá thênh thang, nhưng với họ xe chỉ là phương tiện chứ không phải để …dẫn đầu hay …cho người thành đạt. Khuynh hướng tiết kiệm đã làm cho những chiếc xe uống xăng như nước lỗi thời nhanh. Chiếc Land Cruiser dù giá đã hạ hơn phân nửa thì lâu nay vẫn trở nên khó bán. Dân Mỹ xài nhiều nhưng tính kỹ. Vào thời buổi khó khăn thì ai lại chẳng tính. Thế nên các làn car pool (lane ưu tiên dành cho xe đi chung) trên các xa lộ nay đã đông hơn. Hay ngay như lối sống của giới trẻ cũng đã thay đổi. Xưa con cái thành niên là thích ra ở riêng, nay không ít cô cậu Mỹ đã có gia đình lại dọn về sống cùng cha mẹ. Vâng, gia đình là ước lệ sống có giá trị bất biến vậy! Chỗ này chúng tôi trao đổi nhiều và cũng học được từ anh câu: ‘nhà có lão thì cũng như có bảo’. Lão ở đây là người lớn tuổi và bảo là sự quí giá.

Tôi biết từ lâu anh đã trông đợi chuyến về Việt Nam này. Nhiều lần anh nói “thèm về quá”. Về? Không là quê sao có thể nói ‘về’. Bấy nhiêu cũng đủ cho thấy chút quê nhà không dễ nhạt trong những người Việt đặc biệt như anh. Thế nhưng, chuyến về thăm của anh vẫn thật bất ngờ với tôi, với việc làm ăn của anh. Là vì mới hồi tháng 7-2008, lúc tôi gặp lại anh ở Mỹ, trông anh vẫn còn bận tíu tít. Lúc đó, khi biết tôi ghé San Diego, anh sốt sắng lên lịch hẹn. Từ San Gabriel nơi anh ở đi San Diego mất độ hai tiếng lái xe, vậy mà chưa đến 6 giờ khi tôi đang còn ngủ thì điện thoại reo. Có nghĩa anh đã đi từ 4 giờ sáng. Nhưng lần gặp sau mấy chục năm ấy đúng chỉ là gặp mặt, chỉ để xem ‘mày ra sao’ thôi, vì tôi có ít thì giờ mà anh cũng vội về cho kịp việc. Chúng tôi vừa ăn sáng vừa hỏi han nhau về gia đình và cuộc sống. Anh có hai con trai, cuộc sống khá nề nếp và tươm tất nhờ một tay chị. Cho dù ở Mỹ tuổi mười sáu đã có thể lái xe, và con anh nay đã vào đại học, anh chị vẫn tự mình đón đưa. Việc này theo anh có hai ba cái lợi: Thứ nhất, để tụi nó bớt bớt tự do, nhất là tự do sống theo lối Mỹ. Thứ hai, để duy trì sợi dây tình cảm gia đình theo cách Á đông. Và thứ ba là để tiết kiệm. Anh cho biết, những điều anh nói không xa lạ hay khác biệt gì lắm với không ít gia đình Mỹ chính tông. Ít ra là trong thời buổi khó khăn gần đây.

Khi anh đã trở về Mỹ được một tuần, thì giữa tháng Mười Một tôi lại đón một người bạn thân khác, cũng “về thăm quê hương’ giữa mùa ‘bão toàn cầu’ sau ba mươi năm xa cách. Người bạn này có gốc gác gia đình và hoàn cảnh vợ con giống anh kia đến kỳ lạ. Cả hai anh chị cũng chẳng còn ai ở Việt Nam… Chỉ khác, anh là Việt kiều Úc gốc Hoa.

https://thesaigontimes.vn/viet-kieu-my-goc-hoa/

TBKTSG, 2-2009

 

Nước Đức như và không như tôi hiểu

Nước Đức như và không như tôi nghĩ…

https://plo.vn/nuoc-duc-nhu-va-khong-nhu-toi-nghi-post323047.html

https://www.tintucvietduc.net/cong-dong/nguoi-viet-o-duc/24898-nuoc-duc-nhu-va-khong-nhu-toi-nghi.html

Dù có thời gian dài tiếp xúc và làm việc nhiều với người Đức, tôi thường nghĩ Đức cũng giống như các xứ Âu khác, họ đều là Tây cả… Chỉ sau lần thứ ba sang làm việc lâu hơn tại nước này, có điều kiện tiếp cận sâu vào đời sống của họ, tôi mới ‘học’ thêm được nhiều điều thú vị.

Cứ nghĩ dân Âu Mỹ ăn trễ, ngủ muộn, sáng ra đi làm muộn, nhưng không, trong thời gian làm việc tại Haltern (gần Dusseldorf) vào giữa năm 2014, tôi có chút bất ngờ khi nghe nhân viên ở đây bắt đầu làm việc từ 7 giờ sáng. Điều này có nghĩa họ phải thức rất sớm để đến sở, bởi có khi mất cả tiếng đồng hồ lái xe. Tuy là nước công nghiệp hàng đầu thế giới, Đức có diện tích đất nông nghiệp, mặt nước và rừng chiếm gần 85% (53,5% + 1,8% + 29,5%), nhưng số dân làm canh nông thì chỉ hơn 2%. Có lẽ do vậy nên giờ làm việc của doanh nghiệp tại các vùng nông thôn thường bắt đầu sớm để nhân viên chiều về có thể tranh thủ phụ gia đình chăn nuôi, canh tác.

Ta cũng có thể đã quen nghe dân Tây thường di động, hay thay đổi việc làm và nơi làm việc, ít khi ở lâu một chỗ. Điều này lại không hẳn đúng với Đức. Ở Đức yếu tố quần cư theo gia đình là khá cao và việc sở hữu một căn nhà vẫn là điều mơ ước. Sự ổn định đối với họ là tiêu chí sống ưu tiên. Chính vì vậy mà họ cần cù ‘cày’ từ lúc rời ghế nhà trường, và thường gắn lâu dài với nơi làm việc, ít bay nhảy. Số nhân viên bám trụ ba, bốn chục năm hay hơn tại cùng một doanh nghiệp ở Đức rất phổ biến. Tại công ty nơi tôi đến làm việc, cả nhân viên và lãnh đạo ở đây đều hãnh diện về điều này và cho rằng doanh nghiệp của họ chẳng khác của người Nhật…

Ai cũng biết máy móc thiết bị Đức tốt, tinh thần Đức bền bỉ. Nhưng có lẽ phải cần đi thăm bảo tàng Krupp ở Essen thì mới tận mắt thấy đâu là cội rễ của kỹ thuật Đức và tại sao ý chí Đức ‘thép’. Ngày nay, Đức là nước giàu nhất châu Âu, mạnh hàng đầu thế giới, nhưng đường đến giàu có của họ đã không dễ dàng. Thật vậy, đến những năm 1950 Đức vẫn còn rất khó khăn. Đó là một đất nước bị chia cắt, hoang tàn sau Thế Chiến thứ 2, nhiều đô thị bị san bằng. Riêng tại Cologne, chỉ có 32.000 người sống sót từ con số 750.000. Phần lớn trai tráng từ 17 đến 35 hoặc đã thiệt mạng hoặc bị thương tật. Cả nước Đức có trên 20% hộ thiếu nhà, tiêu chuẩn ăn của dân chỉ còn 1.000-1.500 calo/ngày, và họ phải mất trung bình 9,5 giờ làm việc mỗi tuần để “xếp hàng mua gạo”. Chưa nói thiên tai bão lụt cũng hoành hành xứ này chẳng kém Việt Nam. Nước Đức và người dân Đức lúc ấy đã lãnh đủ hậu quả của những tham vọng cuồng bạo độc tài. Họ đã cơ cực như ở mình một thời…

Rất may, Đức đã có những cái đầu kinh tế tốt như Walter Eucken. May mắn hơn, vào lúc cùng cực đó đã nổi lên một Ludwig Erhard thức thời và quyết đoán, mở ra cơ hội cho người dân xứ này làm nên phép màu Đức (German economic miracle). Để cứu vãn nền kinh tế rệu rã lúc đó, Erhard đã xây dựng một kế hoạch cải cách ‘tiền tệ, tài chánh, thuế’ táo bạo, gây tranh cãi sóng gió trong nội bộ và suýt bị các ‘thầy giùi’ bảo thủ ngáng cẳng. Nhưng nhờ sự ủng hộ và hưởng ứng nồng nhiệt của người dân, nền kinh tế Đức đã được vực dậy diệu kỳ rồi thăng hoa nhanh chóng. Quá trình này thể hiện sự kiên trì, tận tụy, kỷ luật của dân Đức, và họ đã được đền bù.

Bên cạnh nổ lực xoay chuyển đem lại thịnh vượng từ đổ nát như vậy, không ít nơi tươi đẹp ngày nay cũng đã lột xác từ các công trường hầm mỏ đầy khói bụi. Ta có thể bất ngờ về sự đổi thay này nếu có dịp đi thăm khu nhàn du và trung tâm nghệ thuật Gasometer ở Oberhausen, hay cảnh trí nên thơ dọc hai bờ sông Lippe vùng Westphalia… Đức là đất nước có sự kết hợp hài hòa giữa công nghiệp hiện đại và thiên nhiên tươi đẹp. Ai đã qua lại nhiều các nước châu Âu chắc biết làng xóm ở Đức trù phú và xanh tươi hơn một số nước lân cận. Lên miền bắc và so với Hà Lan sẽ càng rõ hơn, bởi Đức không có quá trình chặt cây đóng tàu đi chinh phục. Nhưng sự gìn giữ các giá trị truyền thống cộng đồng thôn làng ở Đức mới đáng nói…

Khi được Joerg, một giám đốc điều hành tại Haltern, đưa đi thăm khu làng nhà anh, tôi thầm phục tình làng xóm ở đây qua lời kể về bữa ăn sáng chung cả làng mỗi năm. Nghe đâu cộng đồng người Đức tại các nước khác (như Úc) cũng còn giữ tập quán sinh hoạt này. Làng là vậy, còn gia đình thì sao? Phải sống mới biết… Dịp nọ, được một người bạn Đức khá thân khác có nhà ở Hattinggen mời về nghỉ lại cuối tuần, tôi đã ngộ thêm rằng tình cảm gia đình của người Đức thật ra không quá Tây như mình nghĩ: Họ cũng bắt con lễ phép ra chào khách như ta, người mẹ cũng thường thức học với con, cũng sốt ruột chờ cửa đêm mỗi khi con về muộn… Joerg cũng đã kể tôi nghe chuyện nhà mình. Hai hôm trước ngày đưa tôi đi thăm Gasometer, con trai anh có tiệc liên hoan ở một nông trang xa và do đêm khuya sợ khó đón taxi, anh đã lái xe đi đón con về. Con anh đã hơn 30, đã có vợ có con, nhưng với anh nó vẫn cứ là thằng nhỏ! Quá 12 giờ hôm đó lại là “Father’s Day” ở Đức, hai cha con đã rủ nhau đi uống cà phê để cùng ‘celebrate’…

Father’s Day ở Đức thật ra là ngày của đàn ông (Men’s Day). Theo tập tục, dịp này đàn ông ‘có quyền’ bỏ bê gia đình, chất đầy trên các xe rờ-mooc để lông nhông uống bia và hò hét… Lượng bia tiêu thụ trong dịp này thường vượt xa Oktoberfest. Nhắc đến Oktoberfest mà quên nhà nấu bia Hofbrauhaus là thiếu sót, do cả hai đều có chung quê Munich. Ai đến Munich mà chưa thử bia hảo hạng tại Hofbrauhaus thì có thể sẽ tiếc… Munich tuy bị tàn phá nặng nề sau Thế chiến thứ 2, nay lại là thành phố xinh đẹp và phồn thịnh nhất châu Âu với các công viên nổi tiếng thế giới, như Englische Garten (Vườn Anh) hay công viên lâu đài Nymphenburg.

Xem đá banh, dù chỉ thoáng qua, ta đã biết ý chí Đức qua khát khao chiến thắng và bản lĩnh lội ngược dòng. Trong kinh tế và đời sống, khát khao và bản lĩnh ấy bền bỉ hơn nhiều. Đó là sự hun đúc từ đức tính tận tụy, kỷ luật, từ tinh thần không buông xuôi, vội tự mãn, dễ bỏ cuộc… Tất cả được nuôi dưỡng bởi những giá trị cao đẹp tạo nên tính cách hay cốt cách con người, được gọi là phẩm giá (dignity). Phẩm giá tuy cũng chuẩn mực, nhưng không là học thuyết hay cứng như chủ thuyết và không riêng người Đức mới có, cho dù đã có khái niệm germanism.

Nhờ có thời gian làm việc chung và đi lại nhiều nên tôi may mắn có chút cảm nhận gần và sâu hơn về đất nước này. Với tôi, nước Đức mà tôi thấy ngày nay không như nước Đức tôi được kể lại, người Đức mà tôi nghe kể lại cũng khác với người Đức tôi gặp trên đường…

Huy Nam, CV Kinh tế Tài chánh và CK, Chuyên gia Độc lập, Giảng viên PACE

Thành viên Hội đồng Chỉ số HOSE – Trọng tài viên TT Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)

 

Cảm nhận Úc Châu

Cảm nhận Úc châu

  • I love a sunburnt country
  • A land of sweeping plains
  • Of rugged mountain ranges
  • Of droughts and flooding rains
  • I love her far horizons
  • I love her jewel – sea
  • Her beauty and her terror
  • The wide brown land for me
  • Tôi yêu quê hương cháy nắng
  • Những cánh đồng bằng phẳng bao la
  • Những núi non hiểm trở tự ngàn xưa
  • Những mưa lũ, những ngày hạn hán
  • Những chân trời kéo dài vô tận
  • Những biển xanh ngà ngọc xanh tươi
  • Vẻ yêu kiều, cả những cơn cuồng nộ của quê hương
  • Yêu biết mấy, dãi đất nâu rộng lớn.

(Đất nước tôi, thơ, của nữ sĩ Dorothea Mackellar do Dr. Phạm Vũ Thịnh phỏng dịch).

Những vần thơ của nữ văn sĩ Dorothea Mackellar trên đây có khả năng khái quát một thoáng tương phản về hình tượng đáng yêu đối với quê hương của bà. Nhưng nó có thể cũng gần gũi với cảm nhận của ai đã từng đến thăm nước Úc…

Từ trên máy bay nhìn xuống, nước Úc dàn trải một màu nâu bao la. Điều này dễ tạo một cảm giác khắc nghiệt cho khách lần đầu mới đến thăm đất nước rộng hơn 7,6 triệu km2 này – một đất nước bàng bạc những hoài niệm về cái nắng cháy bỏng, về hạn hán và mưa lũ.

Nhưng khi vừa ra khỏi phi trường Melbourne, cảm giác ấy có thể dần dần biến đổi. Trên đường về trung tâm thành phố, ấn tượng trực tiếp đầu tiên mà khách sẽ nhận được lại chính là sự xanh tươi mượt mà của cây cỏ, môi trường trong sạch, nề nếp, với sự chăm chút của con người, thể hiện qua hệ thống đường sá, nhà cửa, sân vườn…

Thành phố – Sân vườn – Cây xanh

Thành phố Melbourne là thủ phủ của bang Victoria, được mệnh danh là “State of garden” (bang của vườn cây). Tất cả các biển số xe đều ghi dòng chữ đó một cách tự hào. Quả thực, ở Victoria đi đâu cũng thấy sân vườn, những mảng cây hoa lá. Khu trung tâm Melbourne với các nhà cao tầng gom lại thành một quần thể không lớn lắm, vươn cao lên trên nền cây xanh. Nhìn từ xa, quang cảnh đó cho những thoáng cảm giác lạ, lúc như bức tranh tuyệt đẹp khi thì có vẻ đối chọi…

Thật ra, không chỉ có Victoria, hầu như tất cả những nơi tôi đi qua đâu đâu cũng nổi bật một màu xanh. Đặc biệt tại Canberra, thành phố có chưa tới 300.000 dân, được xây dựng từ năm 1913 và chính thức là thủ đô liên bang từ 1927, có cái hồn trang nghiêm và bộ mặt vừa thơ mộng vừa quý phái… Ngoài hội hoa tập trung nhiều vào mùa xuân, được tổ chức định kỳ tại các địa phương, chẳng hạn tại Canberra hay Corbett Garden trên đường đi Wollongong, hằng năm chính phủ có phát động một cuộc thi đua chăm sóc vườn tược tại các cơ quan và công sở lớn, đặc biệt là tại các nhà máy.

Ở Úc, phố xá có vẻ như là nơi để hội tụ làm ăn hơn là để ở, nhất là nhu cầu ở có chất lượng mà dân cư ở đây rất chú trọng. Ngay tại những khu sầm uất nhất tại Sydney là Darling Harbour, có vẻ đẹp hoành tráng của biển trời, có vẻ như cũng chỉ để kinh doanh, chỉ dành cho người đến thăm thú hay du khách. Dân nhà giàu ở lưng chừng đồi các dãy núi phía bên kia Harbour View, dọc các con sông lớn, hoặc trên đường về thành phố vệ tinh Manly. Đa số dân chúng ở các khu ngoại ô cách xa trung tâm vài ba chục cây số. Kiến trúc nhà ở phổ biến là các biệt thự trệt nhiều mái, làm bằng vật liệu nhẹ (thường là gỗ), ngói đỏ theo lối Âu. Kiến trúc nhà ở tại một khu hay một vùng cũng còn thể hiện nét riêng theo từng cộng đồng, mang sắc thái “chung sống láng giềng”, đôi khi đồng dạng, chứ không “đá nhau”, nhờ đó có vẻ đẹp hài hoà, trật tự. Nhà tiêu chuẩn phải có sân trước, sân sau. Tại những khu dân cư mới ở các vùng ngoại ô, khuôn viên đất cất nhà theo quy định phải có diện tích tối thiểu từ 600m2. Dưới mức này không được phép xây cất và mua bán.

Mặc dù thổ dân Úc đã sinh sống trên lục địa này hơn 5 ngàn năm, lịch sử lập quốc Úc ngày nay chỉ xác định mốc thành lập từ 1788, khi hạm đội thứ nhất của Anh chở 1.500 người, hầu hết là can phạm đến định cư ở Sydney Cove. Do lịch sử chỉ có bề dày hơn 200 năm, người Úc đang bảo tồn những giá trị xưa, nhất là về kiến trúc rất chặt chẽ. Hầu hết những kiến trúc có độ tuổi bảy chục năm trở lên được bảo vệ, tập trung nhiều nhất là ở Melbourne. Do đó không có gì ngạc nhiên khi thỉnh thoảng ta vẫn thấy nhiều khu phố vừa đơn sơ, vừa thấp nhỏ, vừa chẳng thấy tí gì là cổ so với Việt Nam, vẫn không được phép phá đi để xây lại. Ở trung tâm Sydney do đất hiếm hoi, một số nhà cũ không quan trọng được phép đập xây lại, nhưng nhiều công trình được yêu cầu phải giữ nguyên vẹn hiện trạng của cả mặt tiền nhà cũ. Đây là việc rất khó khăn và tốn kém mà chủ đầu tư phải chấp hành. Thăm Sydney, thỉnh thoảng khách có thể bắt gặp các “bộ mặt già” khá lớn như vậy đứng chỏng chơ với một hệ thống giàn giáo chống đỡ chằng chịt để chờ ráp vào cái “thân” mới sẽ hình thành sau này. Cũng nằm trong ý nghĩa bảo tồn, ở Melbourne tàu điện vẫn còn hoạt động.

Do địa thế – đa số các thành phố Úc xây dựng trên những thế đất đồi núi – cho nên các tòa nhà lớn, nhất là tại Sydney, ngoài phần “chọc trời”, có lẽ phần “chọc đất” cũng đáng chú ý. Nhiều cao ốc có phần ngầm sâu đến năm bảy tầng. Ở trung tâm Sydney, có một khu phố ngầm khá lớn ăn thông nhau qua nhiều con đường, nhiều dãy phố đan xen với sinh hoạt tấp nập không khác gì trên mặt đất.

Chỗ đậu xe: Vẫn là vấn đề nan giải

Ở Úc không có xe điện ngầm. Tại Sydney có monorail trên không tại khu Darling Harbour. Phương tiện giao thông công cộng phổ biến là xe buýt và xe lửa. Mặc dù xe hơi cá nhân tại Úc được xem là phương tiện rất bình thường (hay có thể nói là tối thiểu) trong nhà, nhưng không phải ai lên phố, nhất là đi làm hằng ngày cũng đều sử dụng xe riêng. Chỗ đậu xe là vấn đề nan giải và giá rất đắt. Vào những ngày cuối tuần, leo lên năm bảy tầng lầu (bãi đậu xe phổ biến trên thế giới hiện nay) để tìm một chỗ đậu xe không phải dễ. Nếu đậu xe dọc lề đường có máy tự động bán chỗ và kiểm tra, một giờ cũng mất 2 đô la Úc, nhưng cũng chỉ có một ít đường cho phép đậu. Các “motel” (loại khách sạn có sân đậu xe) nằm tại các ngõ vào thành phố dọc theo các trục lộ huyết mạch, khai thác đặc điểm trên thành lợi thế cho mình (chỗ đậu xe thoải mái) và đạt hiệu suất khai thác phòng khá cao.

Cũng giống như nhiều nước công nghiệp khác, ở Úc khái niệm đường xa luôn được tính bằng giờ xe chạy. Đa số họ sẽ bị ngập ngừng khi ta hỏi bằng kilômét, nhưng họ sẽ chỉ vanh vách nếu được hỏi bằng phút, bằng giờ… Quên thắt dây an toàn khi ngồi trên xe có thể bị phạt đến 150 đô la Úc. Nói đến đường sá cũng cần nói đến cây xăng. Các cây xăng ít thấy ở các khu trung tâm sầm uất, nghe đâu chính phủ không còn cho xây dựng ở nội thành nữa. Hầu như cây xăng nào cũng hoạt động theo lối tự phục vụ, đổ đầy lấy phiếu đến quày trả tiền, quên trả sẽ phiền! Hầu hết các cây xăng đều có cửa hàng tiện lợi (bán đủ thứ thông dụng và cần thiết khi đi đường xa), nhiều nơi còn có cả thức ăn nhanh Mc Donald hoặc KFC (Kentucky Fried Chicken).

Các khu shopping lớn cũng được xây dựng tại các trục đường cửa ngõ ngoại ô thành phố vì có chỗ đậu xe thoải mái. Dân Úc làm việc từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều, gồm luôn giờ nghỉ trưa, 38 giờ mỗi tuần, nên thời gian mua sắm của họ khá nhiều, nhất là chiều thứ sáu. Hàng hoá thuộc ngành thực phẩm, bánh kẹo, chocolate… thường rẻ hơn Việt Nam, nhiều loại hàng khác đắt hơn, nhất là máy móc và hàng nhập khẩu. Hàng tiêu dùng, nhất là quần áo, dày dép của Trung quốc tràn ngập. Cả những hàng hóa lưu niệm, tưởng là đặc thù của Úc, rất nhiều có xuất xứ là “made in China”. Ơ ngoại ô Sydney có khu bán hàng rất rẻ chỉ nhóm vào các ngày nghỉ, Thứ Bảy và Chủ nhật, là một freemarket (chợ trời), có thể tìm được nhiều loại hàng tốt với giá rất rẻ. Dọc theo các lối đi trong nhiều siêu thị cũng được đặt nhiều giỏ hàng giá “bèo” gọi là “crazy bargains”.

Cộng đồng người Việt: Năng động và chịu khó

Người Úc tự cho mình là một “melting pot” (tạp chủng). Họ có cả hơn trăm nguồn gốc dân tộc khác nhau. Do đó đặc tính dân Úc là hiền hòa, hồn nhiên, vui vẻ, xuề xòa, và có thể nói là ít kỳ thị. “Dân Úc gặp nhau ngoài đường dù lạ họ cũng thường cười chào, nên ta nhớ cười chào lại”, nếu bạn mới tới Úc lần đầu, những người đón khách kỹ lưỡng có thể sẽ nhắc bạn như vậy.

Cộng đồng người Việt tại Úc hiện lớn thứ ba, hay thứ tư (thời điểm 1990) so với các cộng đồng không nói tiếng Anh, sau Ý, Nam Tư và có thể cả Hy lạp. Người Việt tại Úc nổi tiếng học giỏi, chịu khó và thành công. Họ có mặt ở mọi nơi, từ nhà máy đến các cơ quan chính phủ. Ơ các trung tâm sầm uất nhất tại Melbourne, Canberra, Sydney,… đâu đâu cũng đã có các cửa hàng do người Việt làm chủ. Người Việt đã đến và làm sống động nhiều trung tâm.

Ở Melbourne có Footscray, Springvale, Richmond… Nếu là dân Việt Nam mới qua Úc mà được đi thăm những khu có đông người Việt quần cư, nhìn thấy phố xá với bảng hiệu tiếng Việt dọc ngang, dễ thấy trong lòng nao nao khó tả. Sau một thời gian không dài lắm, người Việt đến Úc đã lập được những kỳ tích đầy ấn tượng. Ơ Sydney có Bankstown, Cabramatta… Khu Cabramatta từng là điển hình về sự năng động của người Việt. Cuối những năm 1970, Cabramatta là khu ngoại ô đang xuống dốc của Sydney, nhưng chẳng bao lâu sau khi người Việt đến cư ngụ, nhờ giá nhà lúc đó thấp, họ đã biến nơi đây thành khu “shopping” 7 ngày trong tuần, gây chú ý và hấp dẫn khách du lịch với hàng hóa, dịch vụ rẻ, và là một trong những khu vực đóng thuế cho nhà nước cao nhất Úc.

Nhìn chung, dân Việt tại đây có một mức sống trung bình khá và ổn định. Họ được các đồng nghiệp là người Úc mến phục, khen ngợi. Dù có nhiều hoàn cảnh cá nhân khác nhau, đa số người Việt tại Úc tỏ ra có nhiều tình cảm tốt đẹp với quê nhà, họ đang hướng đến tương lại hòa nhập một cách tích cực. Đối với hầu hết người Việt tại đây, về thăm Việt Nam luôn là sự mong đợi và là niềm hạnh phúc lớn. Nhưng nhiều người cũng thú thật rằng, họ sống ở Úc đã quen rồi nên thích hơn, thấy dễ chịu do nhẹ nhàng hơn.

Nước Úc và người Úc đã để lại trong tôi những cảm nhận đẹp. Dù cách xa Việt Nam đến 9 giờ bay, xuôi về phía nam bán cầu, nhưng đó là nơi dễ gần gũi…

(Báo Đà Nẵng)

 

Bất ngờ Myanmar

Bất ngờ Myanmar…

Sau khi nối chuyến tại phi trường Suvarnabhumi ở ngoại ô Bangkok, chúng tôi cùng Thái Airways bay thêm độ một giờ nữa rồi đáp xuống phi trường Yangon. Đây là lần đầu tiên tôi đến Myanmar, không phải để đi chơi mà là công việc, nên thú thật tôi chẳng có mấy hăm hở. Bởi những gì tôi được nghe trước đó về xứ sở này sau hơn ba thập niên cô lập và bị cấm vận chỉ toàn là nghèo nàn, lạc hậu.

Thế nhưng ngay trên đoạn đường từ phi trường Yangon về khách sạn Sedona, những suy nghĩ kém sáng sủa, thiếu nhẹ nhàng trong tôi đã chóng mất đi. Thay vào đó là cảm nhận xanh tươi, nề nếp, gọn gàng của một đất nước xinh đẹp, thấp thoáng văn minh qua cái nhìn từ cửa kính xe. Những ngày lưu lại Yangon tôi phát hiện nhiều điều thú vị hơn: Đây là thành phố không xe gắn máy, phương tiện công cộng chủ yếu là xe buýt và xe đưa đón học sinh. Xe hơi cá nhân loại đời mới (gồm taxi) đã gần như quân bình với lượng xe cũ thời khó khăn chưa mở cửa. Cho dù ngày nay họ đã đổi sang di chuyển bên phải như ở Việt Nam, cả xe tay lái thuận và nghịch đều được phép lưu thông. Điều đáng nói là rất hiếm khi nghe tiếng còi xe và cả cảnh sát giao thông cũng ít gặp. Tính cách thân thiện, thật thà và nhiệt tình có thể nhận ra ngay trên đường phố. Đây thật sự là điều bất ngờ với tôi khi liên tưởng đến nhiều thành phố tại quê nhà. Chưa hết, Yangon hầu như không có nhà ống, việc ở chung cư được biết là phổ biến. Không nhà ống và xe gắn máy, trật tự phố xá ở đây có nét ‘tây’ hơn, và lề đường cũng thoáng đãng…

Qua tiếp xúc tìm hiểu và tham dự vài sự kiện, tôi nhận ra thêm ít điều tuy nhỏ nhưng rất riêng của họ, về con người và cảnh vật. Trong giao tiếp, việc đưa và nhận họ thường dùng hai tay. Về ăn mặc, từ bác tài đến ông bộ trưởng vẫn còn giữ nét riêng với chiếc “longyi” truyền thống (như xàrông). Họ nói tiếng Anh tốt nhưng vẫn nhai trầu bỏm bẻm… Với thiên nhiên, các công trình, di tích ngàn năm ở đây có vẻ đã được chăm chút gìn giữ chứ không bị cái đói nghèo xâm hại như nhiều nơi. Cùng với nguồn tài nguyên phong phú, diện tích rộng (gấp đôi Việt Nam) và một thị trường 60 triệu dân, Myanmar đang được xem là ‘the final frontier’ (biên giới cuối cùng) về cơ hội làm ăn của thế giới. Trong vòng hai năm qua, làn sóng tìm cơ hội tại đây đã làm cho Myanmar trở thành điểm nóng thu hút đầu tư, trong đó có Việt Nam. Các lãnh vực được quan tâm nhiều là bất động sản, viễn thông, hàng tiêu dùng, du lịch, dầu khí…

Nhờ có rừng vàng biển bạc, với khoảng 2.000 km bờ biển và gần 50% diện tích núi rừng có nhiều gỗ quý, trước đây Myanmar được xếp vào xứ sở giàu nhất Đông Nam Á. Ngành dầu khí của họ đã sớm phát triển từ thời thuộc Anh (trước 1948). Về nông lâm, xuất cảng gạo của họ lớn nhất thế giới, kế đến là gỗ với gỗ tếch chiếm 75% thế giới. Đây cũng là xứ sở nổi tiếng về đá quý. Tuy nhiên, sau hàng thập kỷ lún sâu trong trì trệ, do tình trạng quản lý kém, sai lầm và bị cô lập, càng về sau nước này càng suy yếu. Đến năm 1987 Myanmar được xem là một trong các nước kém phát triển và nghèo nhất thế giới. Ngày nay, có thể nói Myanmar thiếu thốn đủ bề, từ dịch vụ, phương tiện đến hàng tiêu dùng. Thăm chợ Bogyoke Aung San, dù thấy hàng hóa có nhiều, nhưng chủ yếu là nhập cảng. Điều thú vị là người dân họ có vẻ thích hàng Việt Nam. Tuy nhiên, cái nghèo khó ở đây lại chính là cơ hội đối với giới kinh doanh và đầu tư.

Do đúng là cơ hội, nên kể từ khi biên giới cuối cùng này mở ra (năm 2010), triển vọng phát triển được giới kinh tế đánh giá là sẽ rất nhanh. Thật vậy, nhìn vào những đoàn người tiếp nối nhau đến đây, và những thay đổi nhanh chóng về phương tiện và giá cả (đắt lên) ở đó, có thể thấy nhu cầu và sự cạnh tranh tìm cơ hội đã thật sự sôi động tại vùng đất màu mỡ này. Nhìn trên lịch hạ cánh tại phi trường Yangon trong ngày tôi bay về Việt Nam, chỉ riêng từ Thái Lan đã có khoảng 24 chuyến bay đến đây.

Cũng có thể hình dung sự nhộn nhịp hội nhập qua một số thông tin gần đây nhất. Đầu năm 2013, là cuộc chạy đua dành quyền khai thác thị trường điện thoại di động nội địa trong 15 năm với 90 tập đoàn viễn thông lớn nhỏ khắp thế giới dự tranh. 12 ‘ông lớn’ đã được chọn vào “short list” (vòng cuối), trong đó có Viettel của Việt Nam, và phần thắng cuối cùng đã thuộc về Qatar Telecom (Ooredoo) và Norwegian Telenor. Theo tạp chí The Economist số đặc biệt về Myanmar (5/2013), trữ lượng dầu khí khai thác tại Myanmar là vào khoảng 50 triệu thùng (barrels) dầu thô và 280 tỷ mét khối khí. Riêng trong tháng 4-2013 có 30 lô dầu khí ngoài khơi đã được gọi thầu. Tuy nhiên, cũng theo tạp chí này việc làm ăn tại Myanmar trong hiện tại được cho là không mấy thuận lợi, vẫn còn sự chần chừ, do luật lệ chưa rõ, hạ tầng nghèo nàn, chất lượng lao động kém, và cả sự bất an từ việc xung đột sắc tộc (Kachin, Chin, Shan). Không chỉ vậy, chính người dân nước này cũng ‘tự phê’ rằng nước họ chỉ mới gia nhập ‘NATO’ thôi, nghĩa là ‘chỉ nói chứ không làm’ (no action, talking only). Điều này thực ra không khó hiểu, bởi đây là vấn đề chung của nhiều nền kinh tế lúc ban đầu mở cửa chứ không riêng gì với Myanmar.

Sự nhộn nhịp sau chủ trương cởi mở còn thể hiện qua các sự kiện có tầm vóc khác. Riêng trong năm 2013 đã có hai sự kiện quốc tế lớn được Myanmar đăng cai tổ chức thành công. Hồi 6-2013 là Diễn đàn Kinh tế Thế giới Đông Á (WEF in East Asia) tại Thủ đô Naypyitaw, và 12-2013 là Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 27 (SEA Games 27). Đây là lần tổ chức SEA Games đặc biệt sau 44 năm gián đoạn, kể từ 1960, diễn ra tại Naypyitaw, Yangon, Mandalay và Ngwesaung Beach.

Du lịch được cho là lãnh vực rất tiềm năng của Myanmar. Nhiều địa danh thu hút sự khám phá có thể làm ta bất ngờ. Cố đô Bagan được người Âu Mỹ xem không kém gì Angkor Wat của Campuchea. Tại đây, có người nói họ đã sửng sờ khi qua một đoạn đường chỉ vài cây số lại có đến 3.000 ngôi chùa và tháp, với kiến trúc công phu, đa dạng, nhiều trăm năm tuổi, ẩn hiện hai bên rừng cây thưa. Chùa vàng Shwedagon nằm trên một ngọn đồi nhỏ tại Yangon, với các bảo tháp được dát vàng có lịch sử 2.500 năm, là nơi không thể bỏ qua của du khách thập phương. Ngay sự non trẻ của Naypyidaw (được mệnh danh là vùng đất của các vị vua), là thủ đô mới của Myanmar từ 2006 thuộc bang Mandalay với nhiều công trình lớn và hiện đại, cũng không kém phần lôi cuốn. Là xứ của chùa xưa, tháp cổ, núi rừng hoang sơ, nơi có nhiều hồ thiên nhiên, công viên, bãi biển… người ta dự đoán không lâu nữa du lịch Myanmar có thể cạnh tranh với Thái Lan, là nước đã đón 21 triệu khách/năm.

Myanmar tuy nghèo nhưng cái nghèo ở đây được xem chỉ là cái khó tạm thời. Bởi lẽ, trong điều kiện nghèo khó như vậy các nền nếp cũ vẫn được gìn giữ tốt, từ bản sắc dân tộc, các giá trị xã hội cốt lõi, đến quy cũ xây dựng và giao thông. Những thứ chưa bị vỡ vụn này là yếu tố cần cho quá trình phục hưng đất nước. Nếu cam kết cởi mở sẽ được duy trì nhất quán, việc tập hợp tối ưu nguồn nhân lực quốc gia sẽ là yếu tố đủ đặt nền móng cho phát triển. Riêng thiện chí tự thân cầu thị và các chuyển biến từ 2010 đến nay không những được người dân trong nước hưởng ứng nhiệt thành mà thế giới cũng đã chào đón và ủng hộ cao. Từ đó, các nhà kinh tế tin rằng khả năng thoát nghèo của đất nước Chùa Vàng này sẽ nhanh và lợi thế cạnh tranh thu hút đầu tư thế giới sẽ mạnh.

Huy Nam

CV Kinh tế TC Chứng khoán TPHCM – Giảng viên PACE – Thành viên Hội đồng Chỉ số HOSE – Trọng tài viên TT Trọng tài Quốc tế VN

 

Cái Chữ tải Đạo đi

Cái Chữ tải Đạo đi…

Từng có phàn nàn rằng sách vở thời học cũ ưa dùng từ cao xa khó hiểu. Cụ thể, sinh viên ngày nay đọc sách kinh tế tài chánh trước đây (trước 1975) dễ bị vấp khi gặp các thuật ngữ như trương mục, đối chiều biểu, để đương, khảo hướng, v,v… Thế nhưng, lại ít thấy ai đặt vấn đề tại sao lại ‘tài khoản’ mà không trương mục, sao không là chi phiếu mà ‘tờ séc’, sao không là xuất nhập cảng mà là ‘xuất nhập khẩu’, và nhiều trường hợp vay mượn hay tự chế gượng ép khác.

Trong khi đó yêu cầu về độ chuẩn trong truyền thụ kiến thức, để chuyển tải nghiệp vụ, trao đổi thông tin, giao dịch… luôn cần các hệ chữ nghĩa chuyên dùng, vừa cho tiện diễn đạt vừa có thể gói đủ nghĩa. Việc xây dựng, chuẩn hoá, trang bị các đặc ngữ (jargon) và thuật ngữ (terminology) cho từng ngành sẽ là cơ sở gíúp thiết lập môi trường hoạt động và tập quán hành xử chuyên nghiệp. Trước khối lượng thông tin và tri thức đồ sộ phải cần đến sự hỗ trợ kỹ thuật số như hiện nay yêu cầu này càng cấp thiết.

Tuy nhiên, do có sự đòi hỏi độ chín về trình độ và kinh nghiệm thực tiễn, việc thực hiện các ‘bộ ngữ’ riêng trong các chuyên ngành ‘cũ người mới ta’ là không dễ, không thể một sớm một chiều mà được. Do vậy, ngoài các nỗ lực có tính hàn lâm (cân nhắc, biên soạn, chọn lọc. dịch thuật), thiết nghĩ quá trình xây dựng ‘nguồn lực’ này cũng cần huy động và sử dụng lại vốn thuật ngữ đẵ có sẵn trong các tàng thư cũ mà lâu nay vì lý do nào đó đã bị khiếm dụng. Cách làm thể hiện sự tập trung trí tuệ này là khách quan, mặc nhiên xoá bỏ rào cản tâm lý. Bởi dù sao các kho tàng kiến thức trước đây (trước 1975) vẫn là tài sản trí tuệ của đất nước, được chắt lọc và tích tụ qua nghiên cứu và có bề dày thực tế ứng dụng sâu rộng. Điều này có căn cứ lý giải…

Chẳng hạn theo khái niệm dẫn ý trong lãnh vực nghiên cứu, cùng có gốc là ‘approach’ nhưng khảo hướng (một cách dùng cũ) thì không đơn giản chỉ ‘đến gần’ như tiếp cận, mà lắm khi còn là sự lặn sâu lội xa để kiếm tìm lời giải hay sự lý giải về một vấn đề nào đó. Khảo hướng là quá trình lật đi lật lại, là sự lùng sục để một vấn đề được sáng tỏ, và không ít lúc nó đòi ta phải ‘ngược hướng’ nếu muốn có kết quả toàn diện và chắc lý hơn… Như vậy, trong khảo hướng mặc nhiên có ‘tiếp cận’, nhưng với tiếp cận thì không mặc nhiên (hay không đủ sức) chứa khảo hướng. Ở đây không có ý bỏ tiếp cận mà chỉ là thêm khảo hướng, là tăng cường công cụ có sức diễn đạt tốt hơn theo lãnh vực, tùy ngữ cảnh… Thật ra, nhờ có sự đóng góp của khoa tu từ (semantics) và thông đạt học (truyền thông/communications), nhiều thuật ngữ được dùng ngày trước đã có những cân nhắc nhất định. Có thể nêu thêm vài trường hợp dưới đây.

Về yêu cầu gói nghĩa, có thể lấy đối chiếu biểu trong ngành kế toán để minh hoạ. Đây là một tài liệu cơ sở thông tin về hình hài (phần xác) của doanh nghiệp thông qua sự đối chiếu giữa một bên là tài sản và bên kia là nguồn tài trợ. Sự đối chiếu ở đây là một giải trình theo mẫu (biểu): Nó cho thông tin nhanh qua sự so sánh về tình trạng sử dung tài trợ (nợ + vốn riêng) thế nào và việc thực hiện nguổn tài trợ đó thành tài sản để kinh doanh (tích sản) ra sao. Gọi đối chiếu biểu là vậy. Tiếc là thuật ngữ này không còn được lưu dụng. Thay vào đó là bảng tổng kết tài sản, rồi bảng cân đối tài sản, và nay là bảng cân đối kế toán. Bản thân sự thay đổi như vậy nói lên điều chưa ổn trong cách đặt tên cho ‘bản’ báo cáo tài chánh thuộc loại quan trọng bậc nhất này của doanh nghiệp. Ấy là chưa nói về mặt ngữ âm, cách gọi bảng cân đối tài sản lại ná ná với bảng cân đối tài khoản nên không ít lúc dân kế toán cũng gọi nhầm!

Thuật ngữ cũng có sức mạnh tích hợp (integrate) hay diễn đạt uyển chuyển. Bởi vậy dù ‘tác nghiệp’ ở bối cảnh nào thì nó vẫn là nó, nhưng lại có khả năng diễn đạt tương ứng. Theo yêu cầu này thì cách ta dùng thuật ngữ tài khoản hiện nay có lẽ chưa yên. (Xin được dùng chen ‘account’ ở đoạn kế để minh hoạ cho dễ hiểu).

Lâu nay cứ gặp account là ta nghĩ ngay tới tài khoản, bất kể trong account ấy có tài hay không có tài. Cách gọi thiên về tiền này gây hiểu nhầm, bị đuối nghĩa, thậm chí không chính xác trong các lãnh vực khác nhau. Nhưng tại sao lại tài khoản? Là do thời kinh tế khép ở ta account chỉ được dùng trong kế toán và ngân hàng. Đó là các lãnh vực nhìn đâu cũng tiền, nên account được hiểu theo cách thực dụng là tài khoản. Cách hiểu này có vẻ chẳng trở ngại chi nếu nó chỉ quanh quẩn trong kế toán và ngân hàng. Nhưng khi tài khoản được sử dụng trong thị trường chứng khoán (TTCK) thì bắt đầu ló vấn đề, do các account ở đây có thể không hay chưa có tiền mà chỉ có chứng khoán. Ngay như cách gọi “cash account” trong TTCK thì cũng đừng vội nghĩ ở đó có tiền, vì các account này chỉ là phương tiện để người đầu tư mua bán chứng khoán bằng tiền mặt (để phân biệt với hoạt động mua bán theo cách vay nợ/margin). Ấy thế mà đôi khi ‘tài khoản’ vẫn còn đất sống trong TTCK, là do người ta có thể liên hệ (dù chỉ gượng ép) chữ ‘tài’ với ‘tài sản’, mà chứng khoán cũng là tài sản… Tuy nhiên, đến khi mạng internet phát triển thì việc gọi “tài khoản internet” đã rõ là không ổn, do trường hợp này chỉ liên quan đến thuê bao hay khách hàng…

Thật ra, suy cho cùng thì cả trong kế toán và ngân hàng account cũng không nhằm biểu hiện tiền hay tài. Đó là một phương tiện (sổ sách) trung gian ghi nhận và theo dỏi diễn biến các tiểu mục tài sản hay tiết mục cần thông tin (ý nghĩa kế toán), hoặc giao dịch với khách hàng, đối tác, hay một đối tượng nào đó (ý nghĩa quan hệ). Nói rõ hơn, đó là các ‘trang’ ghi chép có tính thủ tục, biểu thị thông tin dùng cho các mục đích theo dỏi riêng và được gọi chung là trương mục. Trương mục (chính là account) còn được hiểu theo ngữ cảnh là thân chủ (client) hay khách giao dịch. Đây là cách hiểu và dùng của thế giới chứ không phải suy luận riêng. Như vậy trương mục có tính đại diện triệt để, có sức tải mạnh hơn hẳn tài khoản dù ở bất cứ bối cảnh diễn đạt nào.

Thuật ngữ tựa con ‘chip’ do trí tuệ tạo ra và được sử dụng để truyền đạt trí tuệ. Sự xuề xòa hay tuỳ tiện là không nên. Một luật về bất động sản mà chưa rõ bất động sản là gì trước Quốc hội là chuyện đáng tiếc, mà bất động sản hay địa ốc? Đây là chuyện dài và đã từng có tranh luận. Xin để mỗi người một góc việc cùng ngẫm sẽ hay hơn. Lúc ấy biết đâu các ‘nhà’ báo cũng sẽ đi phỏng vấn người làm báo để rõ hơn ai nhà báo, ai ký giả, ai phóng viên (?).

Huy Nam

(TBKTSG, Xuân Bính Tuất 2006)

Chữ và nghĩa

Chữ và nghĩa

Có lúc tôi (và nhiều tôi khác) đã tự hỏi ‘cửa khẩu’ là cửa gì, đã ‘cửa’ sao còn ‘khẩu’, và tại sao lại cửa khẩu mà không là cửa biên, biên ải hay quan ải như đã có xa xưa? Hoặc, có ai lý giải được tại sao ta gọi là ‘xuất nhập khẩu’ trong khi hàng hóa xuất đi /nhập về đều diễn ra ở cảng (cảng hàng không, cảng biển)? Tại sao ta không gọi đó là xuất nhập cảng như ông bà mình đã quen gọi từ lâu, đã đồng bộ và tương thích với “import /export” từ khi đất nước có các hoạt động giao thương với Tây phương trong quá khứ. Cũng vậy là cách ta dùng từ ‘thương mại’ và việc chuyển ngữ trong nhiều trường hợp khác.

Nhắc đến thương mại, người ta sẽ liên tưởng ngay đến hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Đó là các hoạt động mua bán có hơi hướm ‘tiền trao cháo múc’. Hoạt động thương mại là việc trực tiếp tiến hành trao đổi các giá trị giữa các bên tham gia trên cơ sở quan hệ tiền/hàng. Hoạt động như vậy cần có nơi chốn và/hoặc cơ chế để thực hiện việc kết nối và kết thúc các hành vi của diễn tiến cung cầu. Khi ta gọi một nơi là ‘trung tâm thương mại’ thì nơi đó thường được hình dung là chỗ mua sắm tấp nập, đông đúc người mua kẻ bán trong các cửa hiệu, cửa hàng, siêu thị. Thế nhưng, nếu so lại với cách thế giới gọi, có thể phát hiện một số trường hợp ở ta nói vậy mà không phải vậy…

Điều có thể thấy ngay là trong khi ta gọi là trung tâm thương mại thì thế giới họ gọi là trung tâm mua sắm, là shopping center hay mall. Thương mại dịch sang tiếng Anh là commerce. Nhưng ngược lại, commerce dịch sang tiếng Việt lại không hẳn chỉ là thương mại. Bởi, khi chuyển sang tiếng Việt đôi lúc ta cần dựa theo cách nói và hiểu của người bản xứ để có một ngữ nghĩa ‘mềm’ hơn, hợp hơn. Theo cách hiểu của người bản xứ thì commerce lại có thể là tư, thuộc sở hữu riêng hay tư nhân. Chẳng hạn, với commercial broadcasting, commercial radio hay commercial television, người Anh Mỹ hiểu đó là các kênh truyền thông tư nhân. Commercial ở đây tương tự private và ngược với public, do public television thường là của nhà nước và không thu phí. Có thể xem các kênh truyền hình cáp tại Việt Nam (như SCTV) là commercial television. Bên cạnh sự phân biệt với public, các kênh thông tin commercial kia lại chuyên về quảng cáo, nên commercial còn có nghĩa (và được họ hiểu trực tiếp) là quảng cáo. Ví dụ, khi người ta nói television commercials thì ta nên hiểu đó là các mục quảng cáo trên truyền hình, commercials lúc này không mấy khác ads hay advertisements. Như vậy, nếu không để ý phân biệt, ta rất dễ cào bằng tất cả là ‘thương mại’.

Trong lãnh vực xe cộ, commerce còn có thể được hiểu khác đi một chút. Cụ thể là với commercial vehicle, nếu ngang ngay sổ thẳng nhiều người rất dễ cho đây là ‘phương tiện thương mại’. Nhưng cách chuyển tải quá đơn giản như vậy sẽ dễ bị tối nghĩa, có thể gây nhầm lẫn hoặc không cho người ta hiểu đúng thứ hay loại mà đặc ngữ này muốn tải đi. Do đó, để có sức truyền thụ, ta nên hiểu commercial vehicle là phương tiện chuyên vận hay dòng xe chuyên vận nói chung (khác với dòng du lịch), với commercial bus là loại vận tải người (ở Mỹ là trên 15 chỗ) và commercial truck để vận tải hàng, bất kể là có kinh doanh (thương mại) hay không.

Một trường hợp khác… Chẳng có gốc commerce, nhưng khi chuyển sang tiếng Việt ta lại gom luôn trade thành ‘thương mại’ để gọi các trade center là trung tâm thương mại. Việc dùng từ thương mại quá dễ dãi, thiếu chọn lọc có thể đã gây ngộ nhận, không diễn đạt đúng ý nghĩa của một công trình hay tổ chức. Nếu ta gọi các cao ốc hay các phức hợp cao tầng mang danh trade center là trung tâm thương mại e sẽ làm hẹp nghĩa hoặc không đặc tả đúng công năng của các nơi này. Việc gọi World Trade Center (WTC) ở Nữu Ước của Mỹ là Trung tâm Thương mại Thế giới đã làm cho nhiều người tưởng nhầm rằng đây là nơi tập trung mua bán như ở thương xá Eden, Crystal Palace (Tam Đa) hoặc Tax của Sài Gòn trước kia. Thật ra không phải vậy, trade nên được hiểu là giao dịch, giao thương, hay mậu dịch tùy ngữ cảnh, và nếu cần chuyển WTC sang tiếng Việt ta nên hiểu sát nghĩa hơn đó là Trung tâm Giao thương Thế giới.

Cũng do đơn giản chuyển trade ra thành thương mại, lâu nay ta gọi WTO (World Trade Organization) là Tổ chức Thương mại Thế giới. Cho dù cách gọi này đã thành nếp, đã vào tàng thư và khó sửa, ai có dịp đi sâu vào nội dung và phân tích kỹ các hoạt động của tổ chức này sẽ thấy cách gọi ‘thương mại’ ở đây là hẹp nghĩa và không phù hợp. Tại sao? Vì WTO có cơ chế bao trùm hầu như tất cả các hoạt động kinh tế, kinh doanh và tài chánh, bao gồm việc chuyển dịch các nguồn lực, tham gia thị trường, hàng rào thuế quan, các khuôn khổ, tập quán làm ăn được thừa nhận, vấn đề minh bạch, sở hữu trí tuệ, v.v… Toàn bộ các nội dung như vậy được chi tiết hóa, có liên quan đến (và để phục vụ cho) quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế liên quốc gia giữa các nước thành viên với nhau (mà thương mại chỉ là một mảng) theo nguyên tắc tối huệ quốc (most favoured nation – MFN). WTO do đó nên được gọi là Tổ chức Mậu dịch (hay Giao thương) Thế giới để có tính khái quát cao hơn.

Chữ và nghĩa cần tương hợp là vậy. Vấn đề không chỉ là tranh luận học thuật mà là chuẩn mực cần có để phục vụ cho yêu cầu thông tin chính xác. Vấn đề do đó cũng không dừng lại ở commerce hay trade, việc chuyển ngữ và sử dụng các thuật ngữ hay đặc ngữ du nhập ở ta còn nhiều trường hợp đáng bàn. Ví dụ, ‘official’ và ‘government’ trong ODA (official development assistance) và NGO (non-government organization) nếu được hiểu là ‘viện trợ phát triển chính thức’ và ‘tổ chức phi chính phủ’ là chưa thật chuẩn. Do official còn có nghĩa là chính phủ, government có nghĩa khác là chính trị. Nếu hiểu đúng thì ODA và NGO sẽ có nghĩa tương hợp trong tiếng Việt là viện trợ phát triển (cấp) chính phủ và tổ chức phi chính trị.

Xưa kia (trước 1975), Viện Đại Học Đà Lạt đã đặt tên khoa kinh doanh và khoa học xã hội của mình là Trường Chánh trị Kinh Doanh với tên tiếng Anh đi cùng là “School of Government and Business”. Việc gọi tên như vậy cho thấy độ tương thích của cách dùng từ “government” ở đây có hàm ý khái quát hơn governance (government cũng có gốc govern/governing/là dẫn đạo, lãnh đạo). Mặt khác, trong dịp trao đổi về “semantics” (tu từ học), khi được hỏi vì sao không gọi là “chính” mà lại là “chánh” (?) một vị cựu Khoa trưởng, người gốc Hà Nội và là một thành viên sáng lập Trường CTKD, đã trả lời rằng vấn đề không chỉ là chánh hay chính mà còn là ngữ âm và cách gọi sao cho thuận âm, bởi “doanh” cũng còn có thể được gọi là “dinh”. Vậy, việc chọn tên trường là ‘Chánh trị Kinh doanh’ nghe thuận âm hơn, chứ không lẽ là “Chính trị Kinh dinh”?…

 

Nhà báo viết CK

Báo chí viết về chứng khoán…

Trong một chương trình bình luận truyền đi trên truyền hình về kết quả giao dịch chứng khoán tại sở giao dịch chứng khoán TPHCM, lúc chỉ số VN-index đảo chiều từ ngưỡng 550 điểm xuống dưới 450 điểm, đã có nhận định đại ý “trái với nhiều dự đoán, mức hỗ trợ với VN-index 500 đã trở thành mức kháng cự”. Nói như vậy chẳng khác nói liều.

Tương tự, không ít bài viết đã gọi các thời điểm chỉ số đổi chiều sau thời gian giảm mạnh là “thị trường tăng do đã chạm đáy kháng cự”. Người ‘ngoại đạo’ đọc dễ nghĩ kháng cự ở đây là “vùng lên”. Họ có thể không biết đấy chỉ là cách diễn đạt cảm tính, là nói ngược. Cách gọi là ‘đáy kháng cự’ hay nói rằng ‘mức hỗ trợ đã trở thành mức kháng cự’ là cách đưa tin dùng ngôn từ cho có vẻ chứng khoán nhưng thực ra người viết đã không hiểu về các thuật ngữ chứng khoán này. Trong thị trường chứng khoán, khái niệm kháng cự (resistance) hay hỗ trợ (support) là để diễn đạt riêng cho các mức giá đỉnh và đáy (các level) mà ở đó đã xuất hiện sự thử thách hay giằng co giữa hai đầu mua bán. Kháng cự nằm ở mức đỉnh và hỗ trợ chỉ mức đáy. Biết khái niệm tối thiểu này thì việc mô tả thị trường sẽ chuẩn hơn, và khi thị trường được diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ đồng nhất thì việc thông tin và tiếp nhận thông tin sẽ rõ ràng và chính xác.

Cùng với thực tế thị trường chứng khoán phát triển nhanh trong vài năm trở lại đây, hầu như báo nào cũng có chuyên trang chứng khoán. Thông tin về thị trường chứng khoán ngày càng trở nên thiết thực trong đời sống kinh tế và điều này làm cho nhu cầu nhân sự viết về đề tài này tăng mạnh. Để đáp ứng, cách phổ biến thường là vừa học vừa làm. Nhiều báo đã sử dụng nhân sự mảng kinh tế, tài chính, ngân hàng… để choàng qua viết chứng khoán. Số khác không nhỏ là mới vào nghề, ở trường báo chí ra, được tuyển dụng trôi nổi… Độ chuyên sâu do đó khó tránh khỏi hạn chế. Ngay cả các cây viết kinh tế, tài chính hay ngân hàng chuyển qua viết về chứng khoán, nếu chưa nắm vững mà vội dấn sâu vào các nội dung nặng ký như phân tích chứng khoán hay bình luận thị trường thì cũng rất dễ bị lỗi.

Những lỗi kỹ thuật hay do hạn chế về chuyên sâu như trường hợp được nêu ở đầu bài viết này là khá phổ biến. Người đọc có thể hiểu sai lệch nếu có cách thông tin rằng cổ tức 20% của cổ phiếu công ty A là hấp dẫn hơn mức 15% của công ty B. Hoặc công ty X có vốn điều lệ 100 tỉ đồng thì to hơn công ty Y có vốn điều lệ 50 tỉ. Điều lạ là hầu như phóng viên nào cũng dùng thuật ngữ “blue chip” để chỉ các công ty lớn vốn, nhưng lại không để ý trên thị trường nhiều người có thể đã trắng tay vì những ‘blue chip’ hiểu theo kiểu này. Việc ‘khóc cười’ đơn giản (các thái cực lạc quan hay bi quan) theo những trạng thái thị trường là điều thường thấy khác. Bằng những ngôn từ tình cảm quá nặng, một thông điệp có thể bị truyền đi thiên lệch. Thiếu vắng yếu tố khách quan, thông tin có thể bị bọc đường hay phơi ra toàn chất đắng. Ví dụ, vào giai đoạn thị trường tăng cao hồi đầu 2007 thì điệp khúc ‘qui luật’ ưa được dùng, đến giữa năm 2008 khi thị trường xuống sâu thì ta lại dễ gặp các bi từ mô tả ‘sập’ hay ‘tháo chạy’…

Có thể nêu nhiều trường hợp khác. Chẳng hạn, phóng viên viết về thị trường chứng khoán có lẽ nay chẳng còn ai lạ với thuật ngữ điều chỉnh (correction). Thế nhưng có thể họ chỉ mới biết có một nửa vấn đề để mô tả tình trạng thị trường điều chỉnh là diễn tiến giá đảo chiều sau một thời gian tăng cao. Ít ai biết điều ngược lại: tình trạng giá lên sau một thời gian suy giảm thì cũng là điều chỉnh. Cũng do cách hiểu chưa tới nơi tới chốn, thuật ngữ IPO ở ta lại được dùng quá tự do. Cứ phát hành chứng khoán là IPO, kiểu nào cũng IPO… Việc không hiểu thấu đáo về IPO đã từng tạo ra các nhầm lẫn lớn về cách làm, gây tranh cãi đáng tiếc và làm cho môi trường vận động kém hội nhập.

Có thể nói thuật ngữ trong thị trường chứng khoán nói chung (bao gồm các thị trường đồng dạng như ‘futures’ và ‘options’) là khó, nếu không muốn nói là rất khó. Vì chúng thường gói theo nhiều ngữ cảnh và/hoặc nghiệp vụ phức tạp. Nhưng đây là khía cạnh chuyên môn chuyên ngành không thể nói sâu hơn trong một bài viết. Ở đây chỉ muốn nói thêm, nếu chúng ta truyền đạt không khéo (không chuẩn hay không tương thích) thì chẳng những thông tin bị kém giá trị mà còn có thể sẽ vô tình lôi công luận ngã theo những chiều lệch lạc. Ví dụ, đầu cơ hàng nhu yếu (như gạo hay sữa) có thể xấu, nhưng đầu cơ chứng khoán thì đã không xấu lại rất cần. Hoặc, việc ta gọi là bán khống chung chung (thay vì nên gọi là bán trước và có sự phân biệt) có thể tạo ra cách hiểu nhầm hay thậm chí oan cho thuật ngữ ‘short’, vốn nghiêm túc trong nhiều ngữ cảnh thị trường. Nhẹ nhàng hơn, cho tới nay nhiều báo đài vẫn gọi SEC (Securities and Exchange Commission) của Mỹ là “Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái”. Ở Mỹ làm gì có ủy ban này! Thật ra đây là Ủy ban Chứng khoán, hoặc gọi đầy đủ là Ủy ban Chứng khoán và Thị trường Chứng khoán (exchange ở đây được hiểu khái quát là thị trường giao dịch hay sở giao dịch, chứ không phải hối đoái).

Thông tin về chứng khoán và thị trường chứng khoán chạm đến vấn đề niềm tin, có thể liên quan đến số phận và quyền lợi của nhiều người, nhiều doanh nghiệp và tổ chức. Khác với các thông tin phổ thông để đọc cho biết, cho vui, phân khúc thông tin này cần sự cẩn trọng và yêu cầu chính xác cao. Thông tin cần trung thực, tránh trộn lẫn chủ quan hay để cảm xúc chi phối. Do đó, người viết cần trang bị kiến thức càng sâu càng tốt, tối thiểu cần có kiến thức cơ bản. Nhưng gì thì gì, việc phải tuân thủ nguyên tắc trung thực và khách quan là điều không thể thiếu. Nếu chưa thật thấu hiểu vấn đề hay sự việc thì tốt nhất nên cậy vào tư vấn. Kỹ hơn, nếu không không chuyên thì tốt nhất đừng đi sâu vào phân tích hay bình luận. Vì sự thật là những bài viết chỉ có thông tin sự kiện và diễn tiến một cách trung thực sẽ tốt hơn các bài có thêm phân tích hay bình phẩm mà cảm tính. Xin nêu thêm chuyện sau để minh họa. Vừa qua, lúc giá xăng trong nước giảm 1.000 đồng, và việc này trùng với một phiên chứng khoán tăng mạnh, nhiều báo đã đăng tít lớn rằng ‘chứng khoán tăng nhở xăng giảm’! Khiên cưỡng quá, mong manh quá. Là vì, chỉ cần nhớ lại khoảng một tháng trước đó (giữa tháng 7, 2008) khi giá xăng tăng một lúc 4.000 đồng thì VN-Index vẫn tăng đều chứ có giảm đâu?!. Vậy là thiếu lý giải.

Không thể phủ nhận thời gian qua nhiều anh em đã tự thân nỗ lực để có nhiều bài viết tốt hơn. Nhưng yêu cầu về kiến thức chuyên ngành và sự cẩn trọng chuyên nghiệp thì vẫn còn đó và luôn ở phía trước. Do vậy, đối với những tờ báo lớn, các báo kinh tế hoặc chuyên ngành, thay vì chỉ cậy chuyên gia qua ‘alô’ như lâu nay, để có những trang chứng khoán tốt việc hợp đồng để có chuyên gia bên cạnh là điều nên nghĩ đến.

 

Hoa sữa

Hoa sữa, hè phố và sân trường…

Hoa sữa cho ý niệm tinh khíết và cảm giác mong manh dễ vỡ… Hoa sữa từng mơn trớn những con đường hẹn hò xưa, gợi nhớ một góc phố tình tứ lãng mạn hay chút hòai niệm tài hoa… Nhắc đến hoa sữa một thời là nhắc đến Hà Nội. Ai chưa đi Hà Nội mà nghe thơ nhạc lý lời về hoa sữa có lẽ cũng đều mong có dịp được nhìn thấy cây hoa này. Nhưng đó chỉ là chuyện của thời còn …quý hiếm.

Không ít đô thị tại miền Trung gần đây đã tranh thủ cho mình những đường phố hoa sữa. Có nơi trồng đại trà cả ngàn cây như tại Quy Nhơn, lấn át những loại cây đường phố truyền thống khác như phượng đỏ, xà cừ, bằng lăng, me, viết… Tại Đà Nẵng, không ít đường phố như đường Nguyễn Văn Linh, đường Lê Duẫn, v.v… đã từng đầy hoa sữa, Hội An cổ kính nhưng ít cây xanh nên hoa sữa cũng đã thâm nhập dễ dàng. Nhờ có thơ và nhạc “lăng xê”, cảm hứng hoa sữa đã bùng lên khá mạnh. Loài cây này nhanh chóng có chỗ đứng trong một số công viên, cơ quan, trường học và thậm chí tại các vườn nhà. Do dễ trồng, ít cần chăm sóc, lại lớn nhanh, hoa sữa cho ‘năng suất’ cao và giúp dễ ‘đạt chỉ tiêu’. Lúc đầu còn ‘quý hiếm’, các vựa kinh doanh cây kiểng cũng đã đưa nó vào để giới thiệu với dân chơi, nhưng chẳng bao lâu thì người ta biết rằng chúng không phải là lọai “kỳ hoa dị thảo”…

Thật vậy, đây là một loài cây thân xốp, họ tạp, phù hợp với yêu cầu che mát nhanh, tạm thời hay dã chiến. Công dụng của chúng có thể gần giống như cây trứng cá hay keo lá tràm nhưng không cứng chắc bằng. Ở Hà Nội, hoa sữa nở vào khoảng sau tháng mười, vào độ thu đông. Các tỉnh miền Trung thì chậm hơn một chút. Nhờ sắc hoa gợi nhớ nên hoa sữa dễ được ca tụng. Nhưng dù có chút sắc, ‘cô gái’ này lại mắc một khuyết điểm không gì bù đắp được về hương: Vào mùa nở rộ, hoa sữa nhả mùi nồng hăng hắc. Nếu trồng tập trung, dân cư tại chỗ hít nhiều và liên tục thì rất khó chịu. Do thời tiết lạnh, ở Hà Nội mức độ mùi tiết ra có thể ít hơn.

Chưa ai xác định được mùi hoa sữa có hại gì cho sức khỏe hay không, nhưng điều đã rõ là chúng ‘làm phiền’ không ít tới môi trường hít thở bình thường của con người. Chính vì vậy mà hồi tháng 11-2003, bà con tại Quy Nhơn từ chỗ dị ứng đã đi đến phản ứng nặng nề với “hương” hoa sữa. Báo hại ngành công viên cây xanh địa phương này phải cấp tốc “khử mùi” bằng cách chặt bỏ và tiến hành thay cây mới. Thay một lúc cả ngàn cây hoa sữa khi chúng đã cao lớn kể ra cũng tiếc. Tuy vậy điều đó không xót bằng sự hụt hẫng về cảnh quan và tình tự thất vọng của thị dân, đây mới là thứ mất nhiều nhưng khó thấy. Việc thay cây khác là đơn giản và nhanh thôi, chỉ có ‘đường phố’ mới dài lâu chịu đựng thiệt thòi: Phải chờ cả chục năm sau mới có bóng mát! Hậu quả ra sao còn tùy cách nhìn nhận, song việc phải trả tiền để có thêm một bài học nữa về cách làm thì đã rõ. Đó lại là bài học mà khi hiểu ra được vấn đề thì đã quá muộn (đã nghiệm thu, hết bảo hành, không còn ai để qui trách nhiệm…) Số tiền có thể không lớn, nhưng nếu ta biết ‘yếu tố chi phí để rút kinh nghiệm’ như vậy luôn được tính theo phép gia số (ngày một đắt hơn) thì không thể xem là nhỏ. Chưa kể thời gian là thứ sẽ vĩnh viễn mất đi! Tuy nhiên, chẳng phải đợi đến khi Quy Nhơn-Bình Định dũng cảm nói hoa sữa “hôi” (Tuổi Trẻ 20-11-2003) và quyết tâm chặt bỏ chúng thì ta mới biết việc này. Người dân Hà Nội có lẽ đã sớm nhận ra điểm yếu kia nên về sau này hầu như họ ít hay không trồng cây này trên các đường phố mới nữa. Vả lại, ai đã có thời gian công tác lâu hoặc có bạn ở Hà Nội mà lại chẳng biết mùi hoa sữa!

Cây đường phố và cây xanh trong thành phố nói chung ngoài yêu cầu bóng mát còn có các yêu cầu xa hơn về môi trường, mỹ quang, an tòan, chắc khỏe khi thâm niên… Có lẽ do vậy nên người ta mới cân nhắc tuyển và trồng loại nào cho phù hợp.

Dáng cây là một chi tiết quan trọng, có thể nói quan trọng hơn là hoa, nhất là cây đường phố. Dáng cây gồm thân và lá. Thân suông cao hay cho tàng thấp là tùy theo điều kiện về không gian và yêu cầu chọn lựa. Nhưng tàng và lá thì luôn cần có dáng đẹp, mềm, tạo vẻ xanh mát. Theo các tiêu chí bình thường như vậy thì các loại cây me, phượng, viết, xà cừ, dầu… hoàn toàn hội đủ, nhưng cây hoa sữa thì không. Hoa sữa có thân xốp mềm, dáng nhánh cứng, lá cũng cứng. Ta có thể thấy một số con đường trồng cây hoa sữa tại miền Trung vào mùa nắng có vẻ hơi xơ xác, lá như khô tái đi, lại thòng xuống những chùm ‘râu’ khô (chỉ lá bị mất nước) cho cảm giác hanh nắng khó chịu. Có vẻ như cây hoa sữa mau xuống sức trong điều kiện nắng gắt (?) Như vậy nó không đảm đương được nhiệm vụ số một đối với cây đường phố là yêu cầu che mát hay bổ sung màu xanh cho mùa nắng. Cây phượng tuy không làm tròn việc này, nhưng bù lại có dáng đẹp, mùa hè nó cho hoa rực rỡ. Có lẽ người ta yêu phượng một phần vì lúc khắc nghiệt nó lại khoe sắc hồng tươi quyến rũ!

Ở Hội An còn có một vài con đường trồng toàn cây bàng. Thơ nhạc cũng nhắc nhiều về ’cây bàng lá đỏ’, nhưng khi lá bàng rụng thì dọn có hơi mệt. Đồng thời, nhìn những cành bàng trụi lá vào một ngày nắng nóng, nói đẹp cũng được mà cho là xấu cũng xong. Có điều, do cây bàng thân thấp tàng rộng, nhánh cứng lá to, nó thích hợp để che mát cho các vùng đất trống hơn là đóng vai cây thành phố. Cũng chính vì cây bàng có đặc điểm hơi “vai u thịt bắp” như vậy, chúng không thể phù hợp với khung cảnh dịu nhẹ của Huế, cho nên thành phố này đã từng phải ‘xét lại’ bàng.

Trở lại cây hoa sữa… Không có lý do gì để ta ghét bỏ cây hoa này, cho dù nó có không thích hợp với các đường phố ở miền Trung. Tuy nhiên, khi nó được chọn để thay cây phượng vĩ trong sân trường thì thật là đáng tiếc. Về thăm trường cũ sau nhiều chục năm xa cách, nhìn ra sân trường thấy đầy cây hoa sữa, một đám ‘học trò già’ bất giác cảm nhận có điều gì đó không ổn và hơi xốn xang… mới hay thiếu phượng. Thiếu phượng, sân trường sẽ không còn thắm khi hè về. Cảm xúc về hoa phượng đỏ, tiếng ve gọi hè và những dòng lưu bút, đã và sẽ gắn liền với mái trường xưa, là những sâu lắng bồi hồi thời đi học. Không ai muốn mất những thứ để gợi nhớ và nuôi dưỡng quyến luyến đó.

Cũng vậy là hoa sữa trên các con đường xưa ở Hà Nội. Có lẽ không ai nghĩ sẽ thay cây gì khác cho những cây hoa sữa đã có tuổi trên đường Nguyễn Du. Đơn giản vì nó đã lắng sâu trong tình cảm của quá nhiều người, cả những ai chưa một lần đến Hà Nội…

Huy Nam