Chu Lai…

Trung tâm Tài chánh Sài Gòn

Trung tâm Tài chánh Sài Gòn…
Sẽ hiện thực với bước đi hợp cách

https://thesaigontimes.vn/trung-tam-tai-chinh-khong-the-hinh-thanh-theo-ke-hoach-va-tien-do/

Hơn 20 năm trước, từ khi dự án đô thị Thủ Thiêm chuẩn bị triển khai và thị trường chứng khoán ruc rịch khởi động, Trung tâm Tài chánh đã được ‘lên kế hoạch’. Gần đây vấn đề lại được hâm nóng tại nhiều diễn đàn. Chẳng lạ, vì đây là bước đệm thiết yếu cho kinh tế Việt Nam có điều kiện phát triển tăng tốc.

Tuy nhiên, câu hỏi thường được đặt ra là chừng nào và điều gì sẽ giúp cho một trung tâm như vậy trở nên hiện thực và có sức cạnh tranh thu hút các nhà giàu thế giới?

Trước tiên, có thể nói Sài Gòn TPHCM đã là một Trung tâm Tài chánh (Financial Center/FC). Cho dù sự nhìn nhận này có là nội bộ thì đây vẫn là một thực tế. Bởi TPHCM có đóng góp xấp xỉ 28% ngân sách quốc gia (1.600 tỉ /ngày), nơi tập trung các tổ chức kinh tế tài chánh lớn trong và ngoài nước phục vụ cho cả nền kinh tế, với nguồn nhân lực chọn lọc và đông nhất nước. Có điều, xét về thông lệ và tầm hạn, TP HCM chưa được xem là một FC thực thụ theo cách hiểu và tiêu chí định danh của giới tài chánh quốc tế. Có thể xem nó còn ở vị trí ‘cận biên’ (frontier) như thị trường chứng khoán Việt Nam vậy.

Một FC thực thụ sẽ cần nhiều yếu tố cấu thành… Đó là địa danh đầy sức sống, có sức hút ‘châu về’, hình thành một cộng đồng chọn lọc gồm các thực thể kinh tế tài chánh lớn quốc tế quần tụ và cộng sinh (cluster theory). Trong đó lãnh vực tài chánh, cụ thể là thị trường vốn, có vai trò dẫn dắt. Một hệ thống ngân hàng hiệu quả và thị trường chứng khoán trưởng thành do đó là các nguồn lực tiên phong. Nhìn ra các FC thế giới, lịch sử hình thành và quá trình phát triển của họ không đâu lại thiếu các định chế huyết mạch này. Đây là các nguồn lực có sức kích hoạt, khơi gợi, thu hút, chắp cánh hằng loạt hoạt động kinh tế tài chánh khác phát triển, dễ thấy nhất là hoạt động sản xuất kinh doanh.

Bên cạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, các lãnh vực cộng sinh đa dạng và thiết yếu cho yêu cầu đồng bộ của một FC thực thụ luôn được bổ sung để có hấp lực cộng hưởng thuyết phục. Ý nghĩa bổ sung đến từ các quỹ đầu tư, hoạt động quản lý quỹ, bảo hiểm, quản trị rủi ro, quản lý tài sản, tư vấn /kiểm toán, đánh giá tín nhiệm (credit rating), mua bán nợ thu (loans/receivable assets factoring), mua bán doanh nghiệp (M&A), và không loại trừ đó là các ‘cánh tay’ tài chánh phức tạp (như SPV, Conduit-OFCs). Yêu cầu đồng bộ sẽ cần đến thị trường tiền tệ (money market), thị trường ngoại tệ (currency market), thị trường hợp đồng hàng hoá (commodities), phái sinh… Bối cảnh như vậy tự nó khắc hoạ hình ảnh hội tụ (hub) của một trung tâm và giải thích lý do tại sao doanh nhân doanh nghiệp, các nhà đầu tư năng lui tới và chọn đó làm nơi lạc nghiệp. Hiệu lực lan toả đồng thời còn giúp nhiều lãnh vực kinh tế hữu hình khác góp mặt và hưởng lợi, đặc biệt là về xây dựng, bất động sản, thương mại dịch vụ và du lịch.

Các FC thường có thế mạnh riêng: Nữu Ước và Luân Đôn là ảnh hưởng toàn cầu; Franfurt là thủ phủ tài chánh Châu Âu; Singapore và Hồng Kông là cửa ngõ Á-Âu; Zurich Thuỵ Sĩ là đất hứa ngân hàng; Chicago thủ đô hợp đồng hàng hoá, phái sinh… Đó cũng là những nơi có hành lang pháp lý, luật lệ, chính sách thuế, dịch vụ công, nguồn nhân lực, các yếu tố về hạ tầng, tiện ích đáp ứng và ổn định. Hầu như tất cả đều có hải cảng và phi cảng trung chuyển. Các FC thế giới còn cạnh tranh thu hút qua các dịch vụ đặc thù như quản trị rủi ro, quản lý tài sản và tư vấn cấp cao (asset/wealth management).

Về mục đích, vai trò khởi thuỷ của FC là để giúp một quốc gia hay lãnh thổ phát triển hưng thịnh. Theo cách hiểu chân phương này thì FC có địa bàn ‘cắm dùi’, có ‘nhiệm vụ chính trị’ cụ thể bám theo lãnh thổ. Tuy nhiên, cho dù mục đích có thể không khác nhiều, theo thời gian và nhất là quá trình hình thành các thể chế kinh tế chính trị liên lập, khái niệm hạn hẹp về ‘không gian hành chánh’ dần dần không còn đủ sức diễn đạt hoạt động thực tế của một FC thời đại. Là bởi tầm hoạt dộng, việc thủ đắc nguồn lực, cơ hội làm ăn, sở hữu tài sản… không còn bó hẹp theo địa giới quốc gia.

Khả năng tạo ra sự hưng thịnh cho một nước từ lâu đã rộng hơn lãnh thổ. Yêu cầu phát triển rộng mở của các FC do vậy đã mặc định cách hiểu và gọi theo quy mô: là FC nội địa (domestic/DFC), khu vực (regional/supranational/RFC), toàn cầu (Global/GFC/IFC). Đặc biệt hơn là loại ‘phi địa dư’, tạm gọi là hải ngoại (offshore/OFC). OFC ra đời từ xu thế toàn cầu, được các RFC sử dụng các kỹ thuật tài chánh phức tạp để tận dụng lợi thế tại nơi có luật lệ ưu đãi, nơi có cơ chế thuế ‘zero’ hoặc thấp (tax-haven), như Bermuda, BVI, Malta,v.v… Về tầm cỡ, theo IMF, FC thực thụ là loại hoạt động rộng hơn tầm nội địa (DFC), và có ba dạng được xếp từ cao đến thấp: Quốc tế /IFC, Vùng /RFC và Hải ngoại /OFC.

Trở lại Việt Nam… Như đã đề cập, theo nhìn nhận của thế giới tài chánh, một FC luôn cần yếu tố mở tương hợp với hoạt động và danh xưng của nó. Ý này muốn nói, đã là FC (thực thụ và hiệu quả) thì không nên có tư duy theo ‘ước lệ nội địa’, cần tránh đặt ra các “nhiệm vụ chính trị” cứng, chủ quan. FC không thể hình thành theo ‘kế hoạch’ và ‘tiến độ’ như xây một đô thị hay khu kinh tế, không thể giao cho đô thị mục tiêu làm ‘chủ đầu tư’. Có thể hình dung đây như việc nuôi ong, nuôi yến, bởi các nguồn lực tìm đến FC rất tinh với yếu tố mềm và nhạy với nơi xây tổ. Do vậy, nếu ‘xạ hương’ ở đó không đủ hấp lực thì sẽ khó thu hút, khó thành công.

Một FC thành công là nơi tạo được cơ hội thành công cho khách trước. Nói khác đi, hãy cho họ thấy lợi trước thì mình mới có lợi sau. Việc hình thành một FC có hồn cho Việt Nam là chuyện đại sự quốc gia, nên cần được hoạch định và chuẩn bị ở tầm quốc gia, và yêu cầu chuyển mình sẽ cần đặt ra sớm.

Đó là gì? Trước tiên, hệ thống ngân hàng phải an toàn và lành mạnh, cần vượt qua giai đoạn sắp xếp, chấm dứt tình trạng ‘chạy gạo’ để củng cố quy mô, để phục vụ sân sau… TTCK ít nhất phải vượt ngưỡng cận biên, có hành lang pháp lý và thông lệ hành xử tương thích. Thị trường cần được nâng tầm về hàng hoá, cả lượng và chất, bằng cách đẩy mạnh cổ phần hoá, nội soi cắt bỏ các vùng mờ, giảm loại ‘DN cổ phần nhà nước’, khuyến khích giao dịch và cải thiện thanh khoản. Bên cạnh các cách làm kém tương thích cần khắc phục (*) TTCK còn thiếu các sản phẩm bổ sung, các ‘đồ chơi’ tiện ích có tính công cụ. Tuy đã có phái sinh nhưng sản phẩm đơn điệu, chỉ tốt cho đánh cược, chưa phát huy yếu tố ‘dẫn xuất’ (derivative) nên chưa là công cụ trợ lực cho việc tăng mua bán tài sản cơ sở. Thêm vào đó, ta cũng chưa có thị trường tiền tệ đủ lớn để lãi suất có chỗ dựa vận động, giúp giao dịch trái phiếu hấp dẫn và hoạt động mua bán nợ thu phát triển. Lãi suất mà diễn biến bất thường thì dòng tiền đầu tư sẽ thất thường.

Đồng nội tệ yếu và chưa thủ đúng vai ‘chủ nhà’ là hạn chế khác. Đây là vấn đề lớn và chỉ có thể hoá giải khi tiền Đồng nhận được cơ chế mua bán hợp lý, có điều kiện ‘cứng’ lên để đi ra. Chưa hết, việc ‘hạn chế giao dịch tài khoản vốn’ còn làm cho hoạt động FC kém hấp dẫn. Cần biết, cho dù Thượng Hải được GFCI xếp hạng cao, Trung Quốc cất cánh chủ yếu là nhờ RFC Hồng Kông. Tại sao? Vấn đề là mức độ thu hút quốc tế trong giao dịch tài chánh vốn… Với Việt Nam, Sài Gòn từng được thế giới nhìn nhận là vùng đất hứa, nếu được đánh thức đúng mực tôi tin cửa ngõ này sẽ giúp nước nhà cất cánh.

Tóm lại, nếu được nhận diện đầy đủ, có khảo hướng tường tận, chuẩn bị tốt với bước đi hợp cách, thiết nghĩ đường đến trung tâm tài chánh sẽ không còn xa. Lúc đó, thương hiệu Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông vang bóng một thời nên được tận dụng và tiếp thị theo cách cởi mở là ‘Saigon Financial Center’.

Huy Nam, CV Kinh tế TC và CK – Thành viên HĐ Chỉ số TTCKVN – Giảng viên PACE – Trọng tài viên TT Quốc tế VN – Thành viên HĐ cố vấn Báo Đầu tư – Chuyên gia Nhóm KTSG.

(Viết theo yêu cầu của của Sở Giao dịch Chứng khóan HOSE trong giai đoạn TPHCM nghiên cứu Trung tâmTài chính, 2020)

(*) https://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/sua-luat-can-bat-dau-tu-khai-niem-280476.html

 

Họ không là phía bên kia…

Họ không là phía bên kia…

Trong lúc chờ đợi để cùng vào thu hình cho một chương trình trao đổi về chủ đề liên quan đến đầu tư chứng khoán, vị khách nước ngoài đứng đầu một quỹ đầu tư lớn có kinh nghiệm nhiều năm tại Việt Nam đã nói với tôi rằng khi ông đến tìm hiểu một công ty mà thấy lãnh đạo tại đó đi toàn xe hơi cao cấp thì ông rât ngại bỏ tiền vào…

Có thể hiểu xe hơi ở đây chỉ là thứ dễ thấy để ví von (vã lại, chắc gì đó là xe của công ty). Ý của ông bóng gió hơn, để muốn nói một công ty mà xài sang trong điều kiện thiếu vốn thì ai đầu tư vào đó sẽ khó mong hiệu quả. Những nhà đầu tư nghiêm túc như ông lại thường không dễ hào phóng, đơn giản vì họ đang cầm tiền của người khác và muốn nơi họ bỏ tiền vào cũng sẽ ”xài kỹ” như họ. Việc lớn chuyện với cái xe âu cũng là để mong được chuyện lớn sau này. Thật vậy, không ít trường hợp việc kết nối lâu dài hay chiến lược có khởi đầu ”cảm tính” như vậy. Tôi hiểu điều này và có ít kinh nghiệm về cách xúc tiến đầu tư của các qũy đầu tư hay nhà đầu tư tổ chức. Theo đó, do ngại mất thời gian và tốn kém, họ thường ngắm nhìn và quan sát từ xa rồi mới tới gần. Nhưng việc lọt vào tầm ngắm dù sao cũng mới chỉ là cảm nhận ban đầu. Trước khi quyết định điều gì họ còn làm khối việc như điều tra cơ bản, thẩm định tới lui, so đo đủ thứ, có cả kò kè bớt một thêm hai. Cách làm ‘dễ chạm tự ái’ này (due diligence) lại thường chỉ kết thúc bằng nhiều ràng buộc không kém phần khó chịu, như kiểm toán “Big Four”, đòi quyền phủ quyết…

Họ làm vậy là vì quyền lợi của họ, vì họ chuyên nghiệp, vì trách nhiệm với người đầu tư đã gởi gắm “khúc ruột” cho họ…Nhưng ta đừng nghĩ chí có họ mới lợi, mà (đáng nói) việc này rất có lợi cho công ty mục tiêu (nơi họ sẽ bỏ tiền vào) và những nhà đầu tư khác ở đó. Do vậy mới có lời khuyên, các nhà đầu tư giá trị nên chọn mua cổ phiếu các công ty đã được nhà đầu tư tổ chức sở hữu trên 25%. Nói khác đi, sự khó tánh và những đòi hỏi của họ là dịp để công ty ta thay da đổi thịt, thêm nguồn lực để có sức sống sung mãn…

Thế nhưng, nhiều người ở ta (giới doanh nghiệp và nhà đầu tư) lại có thể chưa thực hiểu công ty là gì và nó sống chết ra sao… Gọi công ty là pháp nhân, ta thường nghĩ đơn giản đó như một ý niệm pháp lý, chứ ít ai nghĩ đó là một thực thể có đời sống riêng (đặc biệt là loại công ty đại chúng). Công ty có đời sống riêng nên có tài sản riêng để theo đuổi công cuộc kinh doanh, cần có của ăn của để cho mình để có sức sống sung mãn và tiếp tục sinh lợi. Các nhà đầu tư, đặc biệt là đầu tư tài chánh, kỳ vọng vào chính sức sống này để làm quyết định. Sở dĩ họ tin vào ông thọ công ty, ông lộc doanh nghiệp, là do đời sống và sức sống của các ông này độc lập (trong các tài liệu viết và giảng tôi gọi là phân lập) với con người cụ thể. Con người cụ thể (và hữu hạn) sẽ sắm vai như nguồn dinh dưỡng, là nhập lượng (input) để nuôi các ông thọ, ông lộc kia.

Không lệ thuộc vào những con người bằng xương bằng thịt, doanh nghiệp không bị ảnh hưởng hay bị chi phối bởi buồn vui của con người. Con người (cổ đông hay nhân viên) nếu có nay ở mai đi, lúc thức khi ngủ, thì công ty vẫn cứ cần cù với nghiệp doanh của nó, và chỉ có thức. Nó mà ngủ thì ta khổ. Con người nếu có tồn tại hữu hạn với thương trường, sẽ già và mất đi, thì doanh nghiệp sẽ không như vậy. Nó cần trẻ mãi theo thời gian, được nuôi lớn bởi nhiều thế hệ con người. Nhờ vậy mới có những công ty phát triển toàn cầu và xuyên thế kỷ. Đây như một chân lý. Hiểu được chân lý này thì mọi người, giới chủ và điều hành, sẽ cùng nuôi dưỡng sức sống công ty để cùng hưởng lợi kiếm lộc, sẽ không bảo thủ hay suy nghĩ nhất thời, không tranh thủ vắt kiệt nó để thu lợi riêng.

Chân lý doanh nghiệp, hay tinh thần doanh nghiệp (entrepreneurship), nếu cần được xác lập để nhân lên thì lại chưa được khẳng định ở xứ mình. Và, trong khi yêu cầu phát triển (đặc biệt để là phát triển thị trường chứng khoán) rất cần một cộng đồng doanh nghiệp theo đuổi chân lý này, thì rất tiếc đây chưa được cho là tập quán hay ít ra là nội dung cần được xây dựng và cổ xúy ở ta. Thế nên, khi nghe ai đó nói ở nước họ sự giàu có hay tài sản của một người thường được tích ở công ty, thì nhiều người ở ta có thể bị lạ…

Thói quen tích của về cá nhân là một trở ngại không nhỏ cho việc phát triển công ty. Thói quen “cầm riêng cho chắc” này làm cho người ta dễ có cách hành xử ngắn, và tiềm lực công ty do đó sẽ dễ bị hao mòn. Việc đem về túi riêng cho chắc, ngoài thói quen, còn là do tâm lý nghi ngại. Tâm lý này gây bất lợi lớn cho niềm tin. Niềm tin lại là thứ tối cần thiết cho hoạt động đầu tư tài chánh mà chỉ có một hạ tầng luật lệ đồng bộ, một thông lệ hành xử hội nhập, mới đủ sức củng cố và duy trì nó. Việc các các tổ chức nước ngoài khi làm quyết định đầu tư họ tiến hành lắm thủ tục, đưa ra nhiều điều kiện ràng buộc khó chịu, cũng là do thiếu cơ sở niềm tin. Họ phải có cách tự cứu mình vậy. Thông cảm với họ, ta không thể không xót cho mình, xót cho nhà đầu tư nhỏ lẻ của mình.

Nhà đầu tư nhỏ lẻ dù cũng được gọi là cổ đông, được tôn danh là chủ sở hữu công ty, nhưng thực ra họ đứng rất xa công ty, nếu không muốn nói là người ngoài. Nếu họ nghĩ mình “to” như các ông bà chủ tại công ty (các cổ đông lớn) thì có thể họ lại sai lầm. Tại sao? Vì thực ra họ chỉ là khách đầu tư, chỉ thực sự có khả năng (quyền hạn) định đoạt số cổ phần mà họ đang nắm giữ. Chấm hết. Việc họ vô tư bỏ tiền mua cổ phần công ty là vì họ tin vào sự trung thực, minh bạch, đặt kỳ vọng vào sức sống doanh nghiệp. Biết mình đứng xa, nhưng họ tin sẽ được cả hệ thống bảo vệ. Nếu không được như vậy họ sẽ bơ vơ, và việc đầu tư của họ nếu thành công có thể chỉ là may mắn nhất thời. Vâng, mục đích mà cả hệ thống theo đuổi suy cho cùng cũng chỉ là để giữ được niềm tin. Thế nhưng, sự thất bại của nhiều nhà đầu tư do mất cảnh giác chỗ này trong thực tế chắc không phải ít…

Gần đây lại có nhận định ở Việt Nam không thể đầu tư giá trị. Thực tế đáng tiếc cho thị trường này được xem là tình trạng lạ với chứng khoán ở ta vào các thời điểm giá cả giảm tới mức… bèo. Hoạt động đầu tư giá trị vừa có khả năng duy trì độ vững cho thị trường, vừa giúp chứng khoán vượt qua được các giai đoạn trầm lắng khó khăn. Thiếu hoạt động này, thị trường thiếu đi một lực nâng tự nhiên và cần thiết. Chưa thể đầu tư giá trị lại không phải do thị trường thiếu lực hay người ta chê cơ hội, mà còn là do một nguyên nhân nội tại khác: Đó là cách thực hành còn khá “lệ làng” tại nhiều công ty, làm cho cổ phiếu nhạt dần theo thời gian, và ai trung thành nắm giữ cũng có thể bị thiệt một cách lặng lẽ. Điều này, cùng những bộc lộ bóc ngắn cắn dài trong năm 2010, là rất đáng suy ngẫm. Không còn sớm nữa… Đạo đức là phạm trù cần được nâng lên, trí tuệ và tâm huyết cần được tập trung huy động, chứ không chỉ …tiền. Hãy mở lòng với nhau để có thêm nguồn lực và củng cố nội lực trước giờ G mở cửa thị trường tài chánh đã gần kề.

Đừng dị ứng với những đòi hỏi khó chịu của nhà đầu tư, bất kể là nội hay ngoại, chẳng nên khó chịu trước các nhận định thẳng thắn trái chiều nhưng thuận cách của người hiểu biết… Hãy xem đó là thiện tâm đóng góp của người cùng hội đồng thuyền vì một môi trường đầu tư tốt đẹp và cho một cộng đồng doanh nghiệp xứng tầm. Hãy chia sẻ để được chia sẻ. Đừng nghĩ họ khác mình, vì đó không là tiếng nói của phía bên kia…

Từ chủ tập thể đến Chủ sở hữu…

Cổ phần hoá trong bối cảnh thị trường chứng khoán

Từ “chủ tập thể” sang chủ sở hữu,
thực trạng dính đôi và động lực phát huy

Viết cho Trung Tâm Thông Tin Khoa Học Kinh Tế VN, Hà Nội. In trong tập ‘Cổ Phần Hoá, Một Hình Thức Quan Trọng Trong Cải Cách Doanh Nghiệp Nhà Nước’ (nhiều tác giả) phát hành nhân dịp ban hành Nghị định 64-CP (thay Nghị định 44-CP) về cổ phần hóa.

Về mặt lý thuyết, doanh nghiệp nhà nước là thực thể một chủ. Nhưng do đặc điểm tồn tại, người lao động tại đó cũng mặc nhiên được mang cái hồn làm chủ. Quyền lực của vị “chủ tập thể” này dù thực chất chỉ là khái niệm tinh thần, có khi lại rất quyết định – thậm chí có cả quyền “chọn” giám đốc. Điều này làm nảy sinh một thực trạng (và dư luận) đan xen, lẫn lộn…

Trở thành vấn đề nhạy cảm, nên từ khi có chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (CPH/DNNN) vào năm 1992, quyền lợi của người lao động được đặt thành chính sách nhất quán. Trong quá trình triển khai và trên các phương tiện truyền thông, vấn đề càng được đặc biệt quan tâm. Nghị định 44/1998/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ, tại các Điều 13 và 14, quy định rõ các quyền lợi đó. Cụ thể, cứ mỗi năm làm việc người lao động được quyền mua 10 cổ phần thấp hơn 30% mệnh giá. Ngoài ra còn được chia quỹ phúc lợi để mua cổ phần. Người lao động nghèo không có sẵn tiền thì được “mua khống” (được tài trợ với ân hạn 3 năm) số cổ phần giá thấp theo tiêu chuẩn, được hưởng cổ tức, và trả nợ trong vòng 10 năm kể từ năm thứ tư trở đi với lãi suất bằng zero! Với chính sách chăm lo như vậy, dù ai khó tánh cũng không chê trách được.

Thực tế triển khai tại các công ty còn thận trọng hơn nhiều – đến mức bị cho là bảo thủ, nhưng nhờ vậy mà người lao động có dịp được thêm một lần ưu ái. Theo đó, ngoài việc áp dụng triệt để các quy định như trong Nghị định 44, đa số các công ty còn tìm cách (dấm dúi) phân phối cổ phần tối đa cho nội bộ bằng nhiều cách vận dụng khác nhau, vì không muốn để “lọt sàn”. (Một ít công ty có huy động tăng vốn đồng thời với tiến trình CPH có thể không nằm trong số này). Tâm lý chung là rất ngại “người ngoài”. Nhiều công ty thoải mái hơn thì có công bố số cổ phần bán ra người đầu tư bên ngoài, thường chỉ 10% hoặc 20%. Nhưng lắm trường hợp, đó cũng chỉ là sự công khai trên danh nghĩa để xoa dịu dư luận. Chưa kể các biện pháp hỗ trợ có tính bao cấp khác, như sự tham gia cho vay của các ngân hàng, công ty đứng ra bảo lãnh các khoản vay… Lý lẽ giải thích của các công ty trước là ”vì người lao động“ và sau là vì có mong muốn để “tránh xáo trộn”.

Tuy vậy, có vẻ như lực bất tòng tâm. Hầu hết các công ty ngay sau khi đã CPH lại đối diện với một thực tế phũ phàng, diễn ra âm thầm nhưng rất mạnh mẽ là, vì người lao động có nhu cầu khác với nhu cầu đầu tư, họ đã hoán đổi với những người có nhu cầu đầu tư để nhận về cái họ cần thực sự: tiền mặt. Quá trình này lại cũng đe doạ luôn mong muốn “yên ổn” từ phía công ty. Và chính đây mới là vấn đề, là thứ tạo ra nhiều chiều dư luận: bình thản hoặc băn khoăn. Chỉ vài tháng sau CPH thôi, tương quan có thể bị đảo lộn, phần nội bộ nắm thường tụt xuống dưới mức 20%, cá biệt không dừng ở mức 10%! Nhiều người chưa thấy tờ cổ phiếu đâu cả thì đã chuyển hết rồi, hoặc “tên” thì còn là trong mà “người” thì đã là ngoài. Thống kê tại nhiều công ty cho thấy, cơ cấu cổ đông là người lao động trong công ty thường giảm nhanh trong 6 tháng đầu. Câu chuyện nổi đình nổi đám tại công ty cổ phần Tràng Tiền chỉ là một trường hợp điển hình. Riêng thông tin tại Tràng Tiền cho biết, trong số 96 cổ đông bên trong công ty, trong danh sách ban đầu sở hữu 32.000 cổ phần (3,2 tỷ vốn đăng ký), đến cuối tháng 11/2001, số trụ lại để làm chủ chỉ còn khoảng hơn 20 người. Đáng nói, phần đông những người đã bán cổ phần của mình đi dường như cũng chẳng còn tha thiết lắm với chuyện ở lại để làm công. Thực tế nay thấy ở nơi này mai nghe là nơi khác. Cứ như một chuyện phiếm dài diễn đạt các tình huống “hãy đợi đấy”, vấn đề có tính thu hút và gợi cho ta một số nhận định.

Thứ nhất, không thể có sự lẫn lộn giữa nhiên liệu và chất bôi trơn, hay cũng có thể nói, không thể lắp hai động cơ, kéo cho cùng cổ xe, để rồi mong nó chạy tốt hơn được. Tương tự, ta có thể tạm hình dung liên tưởng vai trò chủ sở hữu và người lao động trong một công ty. Việc chuyển đổi DNNN sang công ty cổ phần, về căn bản, là quá trình tái cấu trúc lại vốn và cơ cấu chủ sở hữu, là việc đi tìm động lực mới để cải tiến quản lý và phát triển công ty, chứ không thuần là chủ trương “hữu sản hoá” một thực thể có sẵn cho người lao động tại chỗ. Tuy nhiên, quá trình đó lại chạm đến một thực tế nhạy cảm, đó là người lao động tại doanh nghiệp. Nhưng thật ra, những gì mà chủ trương chính sách, từ trung ương đến các công ty, đã đề ra và thực hiện suốt nhiều năm qua là rất tốt và có sự quán triệt cao về mặt quan điểm. Mặc dù đó đây vẫn còn ý kiến, nhìn chung người lao động đã được đảm bảo tốt về quyền lợi, được quan tâm thoả đáng. Thực tế triển khai nhiều nơi, như ta đã biết, thậm chí còn tốt hơn cả chính sách chung.

Quá trình cổ phần hoá lại đặt ra cho công ty, và người lao động tại chỗ sự chọn lựa về hai vai trò (hay hai mối quan hệ) mới, một đằng là chủ sở hữu góp vốn, đằng khác là lao động ăn công. Dựa vào chính sách và sự chăm lo của từng công ty, theo nguyên tắc, thì 100% nhân sự trong DNNN đến thời điểm CPH đương nhiên có được vai trò là chủ sở hữu theo tiêu chuẩn. Dĩ nhiên ai muốn làm chủ nhiều hơn vẫn được khuyến khích. Mặc dù được tạo điều kiện như vậy, rất nhiều người lại đã từ bỏ cái vai trò làm chủ ấy quá sớm. Điều này là ngoài sự mong muốn, nhưng vì nó nằm ở phiá nhạy cảm (người lao động), nên dễ gây sự chú ý và làm ta sốt ruột. Thực tế vừa nêu cũng làm nảy sinh hai luồng dư luận trái ngược nhau: Một bên thì lo “bị mất”, tỏ ý thương cảm, sợ rằng người lao động sẽ rớt ra ngoài tiến trình. Bên khác lại cho rằng đó là sự vận động tích cực, một sự điều chỉnh cần thiết (những tồn tại bất hợp lý và kém hiệu quả) để thúc đẩy công ty phát triển. Tôi ủng hộ luồng dư luận thứ hai này, có bổ sung các cơ hội ở phần sau. Vì động cơ và thứ nhiên liệu mới cần thiết cho quá trình cổ phần hoá là sự phát triển hiệu quả của doanh nghiệp và yêu cầu thay đổi phương thức quản lý dựa trên cơ cấu chủ sở hữu thật sự (Điều 2,2 Nghị định 44). Do đó cần tách hai vấn đề kinh tế và an sinh xã hội ra riêng để lý giải, rồi đặt chúng trở lại cho đúng chỗ vào cỗ xe doanh nghiệp. Điều này là nhằm để phát huy tốt nhất hiệu lực vận hành công ty. Làm vậy “xăng đóng đúng vai trò của xăng, dầu mỡ có việc của dầu mỡ”, và anh nào cũng quan trọng cả trong cổ máy công ty!

Thứ hai, không nên ép người lao động mua và giữ cổ phần. Cũng không nên vận động họ quá đáng, dễ bị hiểu là kiểu áp lực. Hoặc đặt ra các điều kiện hay các ràng buộc hành chánh để buộc họ (hay đặt họ) vào thế phải mua, nhất là phải giữ, cổ phiếu công ty. Điều này dễ làm mất đi ý nghĩa chăm lo tốt đẹp mà chính sách và công ty đã dành cho họ. Đồng thời nó cũng có thể đụng chạm đến các quyền dân sự về định đoạt tài sản mà lẽ đáng họ có. Ví dụ, nếu ta hạn chế quyền của người lao động bán đi các cổ phiếu có giá thấp hơn 30% nhưng đã thuộc về họ là không hợp lý. Bởi vì dù gọi là được cho không 30%, nhưng đó là phần đóng góp trong quá khứ vào công ty, nay được chia lại theo chính sách, phúc lợi này mặc nhiên đã thuộc về họ. Hơn nữa, nếu ta cấm họ bán đi mà nhỡ giá rớt xuống thì có ai bù cho họ? Diễn tiến trong vài năm gần đây có lắm thực tế đầy kịch tính. Trong điều kiện giá cổ phần tăng lên gấp ba bốn lần mà công ty cứ hô hào hay dùng các biện pháp “phải quyết tâm gắn bó” cứng nhắc thì khó tránh hậu quả oán trách. Người lao động dễ bị vuột mất cơ hội nhãn tiền khi họ nhìn thấy người khác, cũng đồng cảnh như họ, nhưng đã “hành động” nên được mấy con bò sữa, được cái nhà xây cho vợ con, được thêm miếng đất cho ‘thằng lớn’! Mới đây ở ngoại thành TPHCM có lan truyền một cách nói vui: con bò cổ phiếu, cái nhà cổ phiếu, miếng đất cổ phiếu… Đấy là thực tế mà bản thân người viết đã ngộ được. Thử hỏi trong điều kiện đó có ông chuyên gia nào dám cho lời khuyên, hay vị có trách nhiệm nào dám ra quyết định: giữ lại !!!

Ngay cả khi công ty, hay ngân hàng, cho họ vay tiền mua thêm cổ phần mà họ đã trả xong nợ, hoặc đối với lượng cổ phiếu họ được phân phối theo tiêu chuẩn, cũng nên để cho họ có toàn quyền định đoạt. Bởi xét cho cùng ta cấm là không đúng cả về mặt luật lẫn lệ. Thêm nữa, những người lao động có hoàn cảnh khó khăn chỉ mong sao lấp được cái thiếu trước hụt sau, họ lấy đâu ra tiền để mà mua thêm cổ phần. Cho dù có được lãnh đạo quan tâm thu xếp cho vay, với tâm lý muốn chắc ăn, khi thấy đã có lợi họ sẽ bán ngay để lấy tiền. Thực chất họ chỉ được phần chênh lệch, người mua tiếp nhận mọi chuyện còn lại, giống như các trường hợp bán nhà hóa giá một thời. Nhưng tình huống sẽ không đơn giản nếu giá vọt lên nhanh quá, chuyện làm khó kiếm thêm, hay chơi xù phức tạp, chẳng phải hiếm thấy.

Thực tế tay làm hàm nhai cho thấy, người lao động quan tâm nhiều tới cái trước mắt, kiểu một trong tay bằng hai sẽ có (un tiens vaut mieux que deux tu auras). Chuyện “đầu tư” đối với họ là thứ còn xa vời. Ta sẽ quay lại bàn đặc điểm này ở đoạn dưới. Trong khi, giả định một công ty chuyển sang cổ phần mà cổ đông chỉ toàn là nhà nước với nội bộ, bộ máy và nhân sự vẫn như cũ, thì buồn chết! Liệu tình hình đó có tốt hơn lúc chưa cổ phần? Có thoát ra được cảnh lùng bùng? Minh hoạ dễ thấy, đó là người lao động tiếp tục ăn lương 200.000đ/tháng ở Tràng Tiền, hoặc hiệu quả chỉ ngang lãi suất ngân hàng như một trường hợp khác tại Sài Gòn. Rất may, giả định trên đây được xem là xa lạ với tôn chỉ theo chủ trương cổ phần hóa DNNN của ta.

Chuyện ôm giữ công ty như vậy là không ổn. Mong muốn tránh xáo trộn có thể đã đối lập với yêu cầu phải thay đổi để phát triển. Và một khi công ty không thoát ra được thực trạng hoạt động kém hiệu quả, thì việc bỏ đi của người lao động là không tránh khỏi. Tới đây ta có thể thấy rằng không phải cái gì ta muốn cũng đều được cả. Bởi thế, nhiều vị lãnh đạo công ty theo chủ quan nhưng khi theo dõi biến động từng ngày trong danh sách cổ đông có thể lại bị mất ngủ.

Đáng tiếc là, ngay trong thời gian tiến hành CPH, nhiều công ty vì quá chú trọng đến một sự chuyển đổi “không thất thoát”, đã bỏ lỡ việc tiếp nhận có chọn lọc những nhân tố mới tâm huyết, hoặc các nhà đầu tư nghiêm túc phía ngoài cửa công ty và muốn tham gia. Sự chủ quan và duy ý chí có thể cho hệ quả mâu thuẫn, tự làm hỏng nội bộ – và cái giá đắt nhất phải trả cho tình trạng này thường là nguy cơ bị “tiếm quyền”.

Khi nguy cơ thâu tóm xuất hiện thì khả năng kiểm soát công ty theo kịch bản cố hữu sẽ bị lung lay. Lại ầm ĩ kêu cứu, và một lần nữa, vấn đề “quyền lợi của người lao động” có thể được đem ra trình dư luận! Nhưng dư luận lúc này đã bình tĩnh hơn, đã nhận ra rằng những tình huống như vậy có công dụng thức tĩnh được tâm lý cố thủ trì trệ và tư duy lỗi thời trong việc tổ chức lại công ty. Dư luận tại một trường hợp nổi cộm còn cho rằng “người ta la ầm lên thế thôi chứ người nhà của họ cũng đã bán quách đi rồi”! Như vậy, chính cách triển khai trái quy luật khoa học và chủ trương thu xếp khiên cuỡng, là mầm mống phá vỡ sự ổn định duy ý chí. Chỉ tiếc là các diễn biến có tính sự cố này có thể làm ảnh hưởng đến tiến trình, làm mất hoặc chậm cơ hội, và bị dắt đi theo những chiều hướng bất ý khác. Tới một thời điểm, có thể cũng đã xuất hiện yếu tố trục lợi ngắn hạn.

Quy luật vận động có tính kinh tế, các chủ trương có tính tôn chỉ (guideline), khả năng tiếp cận và chấp hành (phạm trù quản trị), chính là mấu chốt giúp lý giải vấn đề một cách khoa học. So lại với những gì đã phân tích trên đây, dù có thiên về mổ xẻ nguyên nhân, cũng đã ẩn chứa ít nhiều lời giải cho vấn đề. Điều ta cần nhận rõ hơn là việc hiểu cho đúng đặc điểm và tính cách của người đầu tư ở một vế và, các chính sách và cơ hội đích thực nào cho người lao động ở vế còn lại.

Về người đầu tư, đây là một chủ đề lớn nữa nên không thể bàn rộng trong khuôn khổ bài này. Nhưng tựu trung, đó là những người có một lượng tiền dư, mà khi nhìn qua lăng kính kinh tế ta gọi là tiền “nhàn rỗi”, cũng cần thiết, khoản tiền đó đã vượt hẳn mức ngưỡng dùng để trang trải các nhu cầu cơ bản. Đó là những người có máu làm ăn, thích mạo hiểm và không ngại rủi ro. Thông thường họ là những người có hiểu biết tối thiểu về kinh tế và môi trường kinh doanh. Như vậy, từ những đặc điểm vừa nêu ta có thể thấy rằng ngay tại thời điểm được CPH, người lao động hiện hữu trong doanh nghiệp có thể trở thành là người đầu tư hoặc không. Bên cạnh các chế độ chính sách rõ ràng, chuyện này nên có sự sòng phẳng và tự nguyện. Đồng thời, khi họ đã mang danh hoặc muốn là nhà đầu tư thì, theo lẽ công bằng, không nên có sự phân biệt người đầu tư bên trong và bên ngoài về xuất phát điểm và quyền lợi. Ngay như những trường hợp “được giảm giá” thì cũng phải có nguồn tài trợ bù vào phần chênh lệch, tất cả lại nằm trong chế độ, chính sách. Do đó mà, quy định “dành tối thiểu 30% cổ phần để bán ra ngoài” với giá có thể cao hơn sẽ lại mặc nhiên phá vỡ nguyên lý đầu tư bình đẳng. Chẳng hạn nếu vốn nhà nước sẽ giữ lại tại một doanh nghiệp là 20%, thì có thể sẽ có đến gần 50% cổ phần được phân phối theo chủ quan, mà sự tuỳ tiện là không tránh khỏi. Tất nhiên các trường hợp được hưởng đặc quyền theo luật sẽ được loại ra. Còn lại, ai dám chắc rằng quá trình đó sẽ trung thực, công bình và thoả đáng? Và liệu những người có công, đã gắn bó cả chục năm với công ty, thậm chí cả đời và vừa nghỉ hưu, có thấy mình trong đó?

Việc không tách bạch, nói chung, dễ tạo ra thêm rắc rối là vậy. Chế độ chính sách cũng cần khoa học, khả năng tiên lượng về hiệu lực triển khai có tính quyết định, nó giúp cho tiến trình giảm thiểu trục trặc. Đây là vấn đề lớn, tôi nghĩ, theo như Nghị định 44/1998 là rất thỏa đáng, nhưng ta không bàn sâu ở đây nữa. Còn cơ hội cho người lao động là gì?

Sau khi giải quyết triệt để các quyền lợi của người lao động tại doanh nghiệp, việc phát hành cổ phần và quyền lợi cổ đông cần đảm bảo các nguyên tắc phổ biến, được thừa nhận, theo thông lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần, theo Luật doanh nghiệp và điều lệ công ty. Có thể nghiên cứu đồng thời thủ tục phát hành đại chúng (dạng IPO) theo tiến trình chuyên nghiệp của thị trường chứng khoán. Việc khuyến khích và thu hút nhân lực, chiêu hiền đãi sĩ, thậm chí có thể áp dụng trong việc thực hiện chính sách, nên theo một số “phương thuốc” đã có hiệu lực lâm sàng như sau.

Một, kế hoạch đầu tư tiết giảm lương (salary reduction plan). Đây là một kế hoạch đầu tư chuẩn bị cho ngày hạ cánh về hưu. Tiền tiết kiệm từ các nhân viên được trộn lại trong một tài khoản đầu tư chứng khoán, theo một số ưu đãi của luật lệ, và đặc biệt có thể được các công ty khuyến khích bằng các khoản cho thêm đối ứng. Ở Mỹ có các chương trình gọi là 401(K) nổi tiếng. Khi đã đến 59 tuổi rưỡi, người đầu tư (là CBCNV) có toàn quyền định đoạt số tiền tích góp và các khoản phúc lợi mặc nhiên trong đó. Chương trình được xem rất hay là vậy, giới kinh tế và chứng khoán vẫn cho rằng (về mặt hiệu quả) hình thức đầu tư này sẽ rủi ro nếu tiền tiết giảm chỉ được đầu tư vào cổ phiếu chính công ty trong cuộc. Điều này đáng để ta suy ngẫm.

Hai, kế hoạch hữu sản hóa cổ phiếu (gọi là stock option plan; employee stock option; hay incentive stock option, dựa vào từng nội dung). Tùy theo chính sách và điều kiện của từng nơi, một số nhân tố có công trạng đóng góp đặc biệt, giữ các vị trí trọng yếu, hay đơn giản là biện pháp chăm lo cho nhân viên… công ty sẽ có các chương trình tặng thưởng cổ phiếu để họ sở hữu, hoặc một chương trình chọn mua cổ phiếu với thang giá hấp dẫn. Phương thức chăm sóc đặc biệt này thường được sử dụng để cầm chân thành phần cốt cán hoặc để thu hút hiền tài. Một dạng tương tự của phương thức này dọn riêng cho kế hoạch về hưu của nhân viên với cổ phiếu được tặng không, gọi là Employee Stock Ownership Plan (ESOP). Đối với các công ty có tiềm lực phát triển mạnh thì người nhận được đặc ân này rất có lợi.

Ba, cổ phiếu vay mua thế chấp tượng trưng (nonrecourse stock). Theo cách này, người đầu tư được tài trợ một khoản nợ có thế chấp tượng trưng (nonrecourse loan). Đặc tính của khoản nợ này là giả định nửa chừng người vay ngưng chi trả, chủ nợ cũng không đòi được gì thêm ngoài tài sản đã được thế chấp. cũng có thể hiểu là người cho vay đã chịu trước phần thiệt, và điều này chỉ có trong thực tế khi họ muốn dành cho ai đó một đặc ân. Người đầu tư khi mua cổ phiếu loại này chỉ cần trả trước một khoản tượng trưng và cam kết tiếp tục trả nợ bằng các khoản sinh lợi (chẳng hạn cổ tức) định kỳ cho tới khi món nợ được thanh lý. Vì được xem là khoản vay có “nghĩa vụ hữu hạn”, giả định cổ phiếu có bị tụt xuống giá bèo, người đầu tư không thể bị mất nhiều hơn khoản trả trước và các khoản đã được thu hồi khác. Người cho vay hoàn toàn phải chịu thiệt đối với phần lỗ. Đây là cách mà ta có thể vận dụng như một biện pháp chính sách, hoặc là một đặc ân dành cho người lao động trong quá trình cổ phần hóa.

Trình bày trên đây chỉ mong phác họa một tiếp cận chuyên sâu hơn cho một vấn đề còn nhiều vướng mắc trong triển khai. Thực trạng đang làm hạn chế tính phát huy của một chủ trương lớn, tiếp tục đặt người trách nhiệm và giới quan tâm trước nhiều trăn trở, rất cần có sự tập trung. Bản thân việc nhận dạng được vấn đề đã cần nhiều nỗ lực, việc nghiên cứu đưa ra các giải pháp và dẫn hướng tốt nhất cần có nỗ lực cao hơn, và yêu cầu đạt hiệu lực tối ưu qua sự triển khai nhất quán cần nỗ lực cao nhất. Thiết nghĩ, không nên chỉ nhìn vấn đề qua cảm nhận từ những góc riêng lẻ, mà cần nhận dạng theo khảo hướng toàn diện, trong bối cảnh rộng và trên cơ sở khoa học.

(Thời Báo Kinh Tế Sàigòn lược đăng)

 

TT Xúc tiến Đầu tư và Thương mại

Khảo hướng VỀ MỘT TRUNG TÂM XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI và ĐẦU TƯ

Viết theo ‘đặt hàng’ của Đà Nẵng, mối quan tâm không riêng địa phương nào.

Thông thường, cơ chế hoạt động truyền thống của một địa phương (đặc biệt là các địa phương nhỏ lẻ) không hội đủ tố chất và năng lực để đáp ứng yêu cầu dịch vụ cao làm cầu nối có tính thúc đẩy và hỗ trợ việc phát triển kinh tế. Trong thực tế, ngày càng phát sinh nhiều những yêu cầu mới, đồng thời, do áp lực cạnh tranh việc đi tìm cơ hội, thị trường, tranh thủ vùng nguyên liệu, tìm bạn làm ăn, đi thăm dò một khả năng … đang diễn ra dồn dập. (Thời điểm tham luận là đầu năm 2000). Những yêu cầu phục vụ cho việc đi ra và đón về như vậy tại nhiều tỉnh-thành Miền Trung, cụ thể như Đà Nẵng (hay có thể những vùng khác) như còn đang đợi một tổ chức, đang đặt hàng cho một Trung tâm xúc tiến thương mại, đầu tư, mô hình IPA (Investment Promotion Agency).

Một trung tâm xúc tiến như vậy có khác nào mảnh đất ươm mầm để cơ hội nẩy nở, tạo điều kiện cụ thể hóa một sự thai nghén, làm hiện thực một ý tưởng kinh tế… Nó chào đón và nuôi dưỡng những nguồn lực mới từ xa nhập vào và hỗ trợ doanh nghiệp địa phương đi ra. Những việc như vậy còn còn thuộc về lĩnh vực phát triển quan hệ và kết nối. Trung tâm này còn có thể đóng vai trò bổ sung và phát huy những mặt mà hệ thống hành chánh Nhà nước hoặc kinh tế, do khuôn khổ cứng, không làm được hoặc không thể làm tốt hơn. Lấy ví dụ một người chưa có ý định làm ăn hoặc đầu tư cụ thể gì tại địa phương hiện nay, nhưng họ vẫn có thể là đối tác, là khách hàng của trung tâm. Một trung tâm hoạt động hiệu quả sẽ giúp tạo điều kiện cho các thương hiệu và hàng hóa địa phương thâm nhập vào các thị trường mới trong cũng như ngoài nước.

Các doanh nghiệp đơn lẻ thường bị đuối sức trong việc thăm dò cơ hội và tìm kiếm thi trường mới. Thậm chí cho dù bản thân một mình công ty có thể đảm đương việc này, thì cũng cần nên biết rằng chưa chắc đó là cách tiếp cận tốt hơn trường hợp thông qua trung tâm. Điều này có thể được giải thích là do yếu tố chuyên nghiệp, thế mạnh tập trung và uy tín của một thiết chế đã phổ biến và được thừa nhận. Sự thuyết phục về quy mô, tầm hoạt động, thông tin phong phú và kịp thời của một trung tâm xúc tiến được tổ chức chu đáo là một ưu thế khác mà các doanh nghiệp và doanh hữu có thế được hưởng lợi.

Mặt khác, những khách từ phương xa, dạng du lịch tham quan kết hợp tìm kiếm một điều gì đó làm ăn, hoặc ngay cả những người có ý định thâm nhập một vùng hay sẽ triển khai một kế hoạch sản xuất kinh doanh, người ta có khuynh hướng trước tiên đến gõ cửa trung tâm. Vì nó phục vụ đa đối tượng, quan hệ đa phương, hoạt động theo một tiêu chí tiếp trợ trung thực nhất, do đó mà họ tin rằng khả năng giúp đỡ của trung tâm sẽ khách quan hơn những định chế khác, nhất là về phương diện thông tin.

Ngày nay những dạng tổ chức xúc tiến như vậy có thể là một cơ cấu tiện ích cơ bản cho sự phát triển của một địa phương hay một lãnh thổ. Nó không làm thay, cũng không có mục đích cạnh tranh việc của các “chamber” (phòng thương mại). Trong khi chúng ta thường dễ nhận ra hoạt động đối ngoại của nó hơn, thì chính sự thành công và tồn tại của trung tâm là ở chỗ, nó vừa lệ thuộc vừa cải thiện các tố chất kinh tế địa phương mà nó đại diện. Những tác động phản hồi, sự kích thích việc sung dụng nguồn lực tại chỗ và các hoạt động nền móng theo yều cầu nâng cao dần… mà nó tạo ra, do đó, còn có hiệu lực làm phát triển sản phẩm địa phương – gồm cả tạo ra sản phẩm mới, tập hợp lực lượng, cải thiện hình ảnh và tư thế đối tác, tạo và duy trì sinh lực cho doanh nghiệp, làm thay đổi não trạng kinh doanh cũ mòn nhờ các thông tin tương tác…

Các hoạt động khuếch trương có thể “cõng” sản phẩm đi ra các thị trường xa hơn, ngoài khu vực hẹp quanh quẩn ở địa phương hoặc lân cận, mục tiêu là hệ thống các siêu thị và thị trường bán lẻ tại Sàigòn hay Hà Nội chẳng hạn. Chỉ cần đổi chiếc áo cho loại bánh đậu xanh nhân thịt tại Hội An là chúng có thể tự tin đứng chung quanh quầy với các anh chị lịch sự khác. Hay việc tìm hiểu xem bún gạo, cái kẹp tóc cách điệu bằng tre, và nhiều thức khác nữa, có còn chỗ đứng ở các thị trường lớn hay không? Thậm chí nước mắm Nam Ô có vị ngon đặc trưng khác với những loại nước mắm vùng khác hoặc xì dầu Tứ Ký… là những cái tên có thể không cần phải quảng cáo nhiều, chỉ cần có cách giới thiệu, thông tin, cũng đủ bán được hàng. Vậy mà người ở xa, dù vẫn nhớ “mùi” và thèm muốn chết, chưa chắc đã biết chỗ để mua! Kể nữa còn nữa. Không chừng lại có thể kê ra những “tên tuổi lớn” đang còn ngủ quên, bị trùm mền hoặc chỉ bơi lòng vòng đâu đó trong cái ao nhà chật chội ! Đó là chưa nói đến những lĩnh vực tiềm năng mà nhiều người cho rằng “nghe kể thôi cũng mê”: du lịch.

Có thể thông cảm cho những cá nhân, những đơn vị lẻ và nhỏ, có vẻ vẫn còn cam chịu như một định mệnh, phải chòi đạp để tồn tại và phát triển trong một sân chơi quá hẹp. Nếu tự “đi ra” một chuyến không thành, bị một lần đắng chát là có thể thiếu tự tin, thụt ngay, không còn đủ lửa để mà rút kinh nghiệm, nói chi đến chuyện bày keo khác. Nhưng nếu có trung tâm xúc tiến, nhà sản xuất kinh doanh không còn phải “ra biển một mình”. Lúc đó doanh nghiệp có thể thông qua đăng ký và được liên tục giới thiệu, thông tin, tiếp nhận phải hồi. Doanh nghiệp cũng có thể kết hợp với trung tâm để xúc tiến từng chương trình riêng cho mình.

Đối với chính quyền, hoạt động của trung tâm đóng vai trò một tổ chức nhịp cầu, là cái sân sau hỗ trợ việc vận hành kinh tế. Nó làm đầu mối thông tin, lấp các khoảng hở hoặc làm nhẹ các sự chồng mí giữa các cơ quan chuyên ngành, hiệu chỉnh các hệ quả có tính ì của sự phân công theo “chức năng nhiệm vụ”. Đơn giản vì nó chỉ có một, là hiện thực mềm nối kết và cộng sinh với những mãng cứng. Nó có đất sống riêng và nằm ngoài hệ thống chính thức (nhưng luôn là con cưng của một địa phương hay lãnh thổ). Chính vai trò đặc biệt như vậy nó có điều kiện làm nhiều việc ích lợi mà hệ thống chính thức không làm được. Đó là các giao hảo kinh tế, tương trợ kinh tế, xã giao làm ăn, các hoạt động trao đổi dọn đường… Các nước chưa có quan hệ chính thức thường làm ăn với nhau thường bắt đầu và thông qua nhịp cầu của các tổ chức tương tự. Với hoạt động diễn đàn và tiếp trợ, trung tâm có thể đảm nhận các xúc tiến thăm dò, thể nghiệm, đúc kết và tham mưu lại để các chuyên ngành khác triển khai. Một hoạt động như vậy chẳng những sẽ thu về các quả tốt, lại còn giúp ta nhặt được cả những cái sai mà không gây thiệt hại!

Ơ những thành phố lớn hoặc những trung tâm khu vực, trung tâm xúc tiến là nhịp cầu tối ưu để thúc đẩy hoạt động kinh tế diễn ra dồn dập hơn. Tuy nhiên, nên có sự kết hợp vùng, chứ không nên tổ chức manh mún phong trào khi chưa có đủ điều kiện. Tổ chức hữu nghị kinh tế này đón nhận và phục vụ tất cả. Mặtc dù có thể có những dịch vụ có thu, hoạt động chủ yếu của nó dựa vào các nguồn tài trợ. Cần thiết nó có thể thiết lập các đầu mối ở những cửa ngõ chiến lược hoặc nối mạng với nhau. Hoạt động của trung tâm chủ yếu có thể gồm, nhưng không giới hạn, các nội dung sau đây:

  • Xúc tiến đầu tư, thương mại.
  • Phát triển dự án.
  • Trao đổi thông tin, cơ hội.
  • Phát triển quan hệ đối tác.
  • Khuếch trương bán hàng và xuất khẩu.
  • Hoạt động giới thiệu, thâm nhập và kết nối.
  • Đầu mối thu xếp, tiếp nhận, triển khai các hoạt động không chính thức về kinh tế, thương mại và hữu nghị kinh tế.
  • Diễn đàn trao đổi kinh nghiệm giữa các nhà doanh nghiệp.
  • Tổ chức hội thảo, tập huấn, tham quan.
  • Các dịch vụ và tiện nghi tiếp trợ cho thuê…

Một trung tâm hoạt động hữu hiệu, ngoài khả năng đánh thức các tiềm năng, còn có thể đóng góp phần tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong vùng. Từ nông nghiệp, nguyên liệu, dựa vào sức lao động là chủ yếu, dần dần sang công nghiệp, chế biến và dịch vụ. Thịt bê thui dù ngon và nổi tiếng cách mấy, cũng chỉ ăn được tại chỗ và trong ngày. Nhưng nếu là khô bò, bò rim, thịt bò hộp, viên đóng gói, chế biến sẵn ướp đông để làm beefsteak,… sẽ cho giá trị thu nhập cao hơn. Kết hợp với sự hậu thuẫn của một bệ phóng đủ mạnh, chúng có cơ may đi xa và cạnh tranh vào những thị trường rộng hơn.

Có thể liên tưởng sự cần thiết của một trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư bằng lý giải hơi bắt bẻ ngụ ngôn “hữu xạ tự nhiên hương” như sau: Trong hoạt động kinh tế đua chen ngày nay hữu xạ không chắc gì gặt hái được tự nhiên hương. Ngày trước “xạ” rất hiếm và “không gian còn hoang dại trong lành” nên chúng có thể tỏa hương xa, vì thế người ta biết chỗ mà đi tìm. Còn nay, “xạ” có đầy, mà xạ nào cũng mười phân ngào ngạt, lại tranh nhau dâng sát tới mũi của các “thượng đế” để mong được chọn. Thế nên từ lâu rồi “xạ” phải đổ mồ hôi, nát óc nghĩ ra cách để mời chào, lôi kéo khách để “tiếp thị” cái hương của mình, chứ ít “em” nào còn dám kiên nhẫn để mà “tự nhiên hương”…

Tập quán tiếp cận làm ăn, sự đánh giá, cả ước lệ hành xử trong kinh doanh cũng đã thay đổi. Thiển nghĩ cần nhanh chóng nhận ra vấn đề để xóa đi mặc cảm bị ám ảnh bởi cái vòng luẩn quẩn: do hẹp nên nghèo, vì nghèo nên hẹp. Không đi ra, chậm gieo hạt, không đơn giản sẽ chỉ chậm thu hoạch, mà có thể là chậm đi một vụ mùa bội thu. Trong hoạt động kinh tế, vận hội thì ít ỏi, và cơ hội đã khó tìm, lại rất dễ bị vuột mất…

(Báo Đà Nẵng, 2000)

 

Sông Sài Gòn đợi ngày hoá kiếp

Sông Sài Gòn… đợi ngày hoá kiếp

Nhìn từ trên cao, sông Sài Gòn uốn lượn như dải lụa sinh động trước khi hợp lưu vào ngã ba Nhà Bè Đồng Nai, tạo nên một vùng hạ lưu vực quý giá dài ra tới biển. Xuôi về cuối nguồn là ‘bộ rễ’ kênh rạch đan sâu vào hai bờ tả hữu, tạo ra các vùng đất lành quần cư không riêng cho con người…

Nhờ vậy, từ giữa thế kỷ 17 phố thị Sài Gòn đã hình thành giữa hai rạch Bến Nghé và Thị Nghè. Tuy vậy, cho đến trước năm 1975, và sau đó vài chục năm nữa, việc phát triển Sài Gòn chủ yếu là phía bờ tây. Vùng đất trù phú phía đông có địa hình đẹp vẫn còn khá hoang sơ như chính số phận dòng sông. Đó một phần vì chiến tranh, vì cuộc sống lúc ấy còn nặng cơm áo, cả nguồn lực và sự lãng mạn chưa đủ để thăng hoa sông nước. Mặt khác là phương tiện vượt sông nghèo nàn, là thiếu các cây cầu. Một thành phố lớn và quan trọng nhất nước, nổi tiếng năm châu, mà đến đầu năm 2012 từ Quận 1 qua Quận 2 phải bằng ghe và phà. Và cho tới nay, số cầu bắc qua bờ Đông vẫn kém xa Đà Nẵng. Tiếc!

Không phải ngẫu nhiên mà phố thị được lập ở nơi có sông nước. Đây là chuyện không mới, không khó hiểu, và ta sẽ có dịp trở lại ở phần sau. Tuy nhiên, điều có thể xem ngẫu nhiên là dáng vẻ gợi mỹ cảm của con sông. Theo đó, trước khi trả nước về cho biển, sông Sài Gòn như có chút luyến tiếc dùng dằng, tạo ra thế đất ‘tứ quý’ quanh co với bốn bán đảo Thanh Đa, Thảo Điền, Thủ Thiêm, Tân Thuận. Sự tạo dáng ấn tượng qua các địa hình bầu diều, với sông nước bao bọc như vậy, được người mình tin là hợp phong thuỷ, còn dân Tây thì quan tâm môi sinh (môi trường sinh thái), và việc cả tây lẫn ta chuộng ở Thảo Điền là điều không lạ. Bởi nhờ môi trường mát dịu, nhiệt độ tại đó vào những ngày nắng nóng thường thấp hơn nội phố trên dưới 3OC. Có thể nói, trong điều kiện chen chúc đến ngột ngạt như ngày nay, việc người ta chọn nơi sông nước để sống là nhu cầu, chứ không chỉ là thời thượng.

Ngược với sự lãng quên ngày trước, từ khi được nhìn nhận đúng giá trị kinh tế và môi sinh, những vùng đất tương tự như tứ quý ‘4T’ kia đã nhanh chóng trở thành đất vàng. Với dự hướng quy hoạch của thành phố và nhịp độ phát triển nhanh như lâu nay, chẳng bao lâu nữa khi phố xá bên bờ đông lên com-lê sánh với bờ tây, sông Sài Gòn sẽ sắm vai là điểm nhấn nằm lọt giữa lòng Thành phố. Nhưng dù sao thì bản thân dòng sông cũng chỉ mới là của trời cho chơn chất. Việc nó có được thắp sáng lung linh, có thêm nét duyên, để bật lên bằng anh bằng chị hay không sẽ còn rất tuỳ thuộc, lắm thử thách…

Nếu tình trạng triệt hạ kênh rạch, lấn chiếm sông nước (vì bất cứ mục đích hay lý do gì) không được chặn đứng sớm thì di chứng sẽ khôn lường. Bởi, một khi yếu tố tự nhiên bị xáo trộn, môi trường thiên nhiên xấu đi, quân bình sinh thái sẽ không còn, nước không còn (hay còn nhưng ở dạng ‘dung dịch’), lúc đó dù ta có nhiều tiền cũng không dễ tái tạo. Không đợi tương lai xa, việc xâm hại và hoang phí của trời cho “chưa bao giờ là nguồn vô tận này” lâu nay đã như việc cắn vào đuôi mình để sống, là cách ăn xổi phúc lợi của tương lai, gây hậu quả nhãn tiền. Các thực tế như vậy có nhiều. Đô thị lại không thể thiếu sông nước, và khi cảm hứng về sông bị thực tế thảm hại tước đoạt sẽ là lúc cuộc sống lên tiếng.

Sông Sài Gòn là con sông thuần Nam Bộ, có đầu nguồn từ Lộc Ninh. Đây là dòng sông hiền hòa, nhưng đó chỉ là chuyện hồi xưa mà nay đã khác. Xưa, con người và sông dựa vào nhau thân thiện. Vào mùa nước cao từ nguồn xuống hay triều dâng từ biển lên, con người đã dành kênh rạch để sông tràn vào, trong đó không ít là kênh đào. Nay, việc san lấp không thương tiếc diễn ra phổ biến sẽ dễ đặt kênh rạch vào nguy cơ ‘tuyệt chủng’. Chùm rễ kênh rạch đan dày hai bờ tả hữu hạ nguồn đã chết dần. Chỗ nào còn sót lại thì đầy rác và chất thải đen ngòm hôi thối, nằm ngay sau lưng nhiều dãy phố sang trọng.

Con người một mặt bức hại nước sông với đủ cách xả thải, mặt khác xoá phần lớn vùng điều hòa dọc hai bờ với hằng loạt công trình san lấp. Cả một vùng rộng lớn cuối nguồn phía nam có chức năng dự phòng tràn nước mùa triều cao, để gánh ngập cho nội phố, đã bị bê tông hoá. Khu vực trước kia là vùng kho bãi phục vụ hệ thống cảng (Khánh Hội và Tân Thuận) bị ngập sớm nhất, nặng nhất, và sẽ khó khắc phục. Nhiều địa danh chứa nước như Kỳ Hòa, Miếu Nổi, Bàu Cát, Đồng Ông Cộ… nay không còn thấy nước, hay chỉ thấy lúc mưa xuống, triều lên! Việc tranh thủ yếu tố ‘cận sông’ của các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, giết mỗ, chế biến mủ cao su, tinh bột mì, đã làm cho sông ô nhiễm nặng. (Đơn cử như trường hợp Cty Nông sản Việt Phước trước đây, cand.com.vn/vietphuoc… 20/07/2016).

Không còn chỗ điều hoà, chứa tạm, sông phải oằn mình gánh chịu nước từ biển lên, trên nguồn xuống, nó buộc phải tràn vào phố, vào nhà dân. Chống ngập mà tình thế cục bộ kiểu be bờ tát nước, như chiến đấu với ‘cối xe gió’, sẽ trường kỳ khó dứt. Ngập lụt thật ra không chỉ tại các vùng ven như báo thường nói mà ngay trung tâm Q1, Q5 cũng lênh láng nước triều. Thế nhưng, thay vì nhận lỗi về mình, ta cứ đổ cho trái đất ấm dần lên, dù theo các nhà khoa học nước biển mỗi năm chỉ tăng trên dưới 1mm.

Trước thực trạng như vậy, chưa thấy có một giải pháp toàn diện hay biện pháp căn cơ để bảo vệ và tôn tạo sông. Với hàng chục dự án đô thị lớn nhỏ ven bờ, và trong khi ngân sách còn hạn chế, chưa thấy có chủ dự án nào bị buộc phải kè bờ kiên cố, tôn tạo mỹ quan cho khoảng sông rạch mà họ trực tiếp hưởng lợi. Việc nở rộ nhiều dự án bất động sản vừa qua là đáng mừng. Tuy nhiên, do quá chú trọng ‘diện tích sàn’, do quản lý cát cứ và lỏng lẻo, đã tạo ra một thực tế không vui, đó là… phố xá càng phát triển thì sông nước càng bị hắt hủi, bị biến thành chỗ chứa rác ngoại khu hay phía ngoài nhà. Ngồi ở Thanh Đa hay Tân Cảng vào những lúc nước xuống sẽ rất dễ nghe mùi hôi xông lên từ vùng bờ cạn.

Xưa, sông nước được chọn lập phố là để tiện giao thương. Nay, đó còn là điểm nhấn, là nơi để thở của thị dân. Và, khi cái ở không còn là chỗ ngã lưng đơn giản, khi lạc phúc thư giãn được chú trọng, sông nước sẽ lên ngôi. Các thành phố không có sông sẽ cần hồ: Lớn và ấn tượng như Wakatipu phía nam Queenstown, Tân Tây Lan; nhỏ mà thơ mộng như Xuân Hương Đà Lạt. Không có hồ tự nhiên người ta phải đào hồ để có mặt nước, như Las Vegas ở Mỹ, Canberra của Úc, hay Putra Jaya tại Mã Lai.

Không dám mơ được tiếng lãng mạn như Danube Bleu bên trời Âu, như dòng Seine qua Paris, hay Thames xứ sương mù. Chỉ xét về phúc lợi môi sinh, về cảnh quan đô thị và giao thông thuỷ bộ, cho phép người dân Sài Gòn có mong đợi về một dòng sông sẽ được như sông Rhein ở Đức chảy qua Koln hay Dusseldorf, sông Hoàng Phố ở Thương Hải, Mekong qua Phnom Penh. Hoặc ít ra như Sông Hàn của Đà Nẵng, Hương Giang ở Huế, và khiêm tốn như Cà Ty Phan Thiết. Đây là tình tự tự nhiên, đẹp, và gần gũi với nơi mình sinh sống. Không là ganh tỵ, tình tự trong sáng này thường có khi thấy mình bị thua kém không đáng về điều gì đó. Chẳng hạn, ai đã từng thả dọc bờ sông Hàn, rong ruổi Bà Rịa Vũng Tàu, đi lại các trục lộ cửa ngõ quanh Hà Nội, đều dễ có chút tâm tư, chút xót cho cầu và đường Sài Gòn.

Sông Sài Gòn bấy lâu nay như cô bé lọ lem sống cạnh anh nhà giàu, lầm lũi cam chịu như kẻ ‘ở đậu’ trên đất mình, với bao nỗi niềm chờ được quan tâm. Về vị trí, nó nằm giữa lòng Thành phố và không mấy khác so với sông Hàn chảy qua Seoul hay Sumida ở Tokyo. Nhưng sự rực sáng của sông Hàn và Sumida nếu được xem là niềm kiêu hãnh của Seoul và Tokyo thì đó vẫn còn là giấc mơ xa của Sài Gòn.

Một dự án tổng thể tôn tạo đôi bờ tả hữu với hai trục đường dọc sông thiết nghĩ đang là mong đợi không chỉ của người dân Thành phố. Đây sẽ là điểm nhấn giúp bật sáng bộ mặt đô thị, là giải pháp căn cơ bảo vệ dòng sông, cải thiện môi sinh, chế ngự các cơn triều cao sóng dập. Dự án này nếu hoàn tất trong một nhiệm kỳ 4-5 năm tới sẽ là điểm son thành tích, xứng đáng được ghi vào lịch sử phát triển Sài Gòn.

Huy Nam, CV Kinh tế Tài chánh Chứng khoán, Chuyên gia độc lập – Giảng viên PACE – Thành viên HĐ Chỉ số TTCKVN – Trọng tài viên TT Trọng tài Quốc tế VN – VIAC.

Kinh tế Sài Gòn, Xuân 2021

Sông Sài Gòn oằn mình đợi ngày… được hóa kiếp


Thân hữu Phản hồi Bài: Sông Sài Gòn oằn mình đợi ngày hoá kiếp 

Huy Nam, đăng trên Tạp chí  Kinh tế Sài gòn và Tạp chí Kinh tế và Dự báo Hà Nội

https://thesaigontimes.vn/song-sai-gon-oan-minh-doi-ngay-duoc-hoa-kiep/

https://kinhtevadubao.vn/song-sai-gon-cho-mot-dau-son-cai-cach-11138.html  

  • Cảm ơn anh Huy Nam về bài viết rất thú vị và thought-provoking – Chúc mừng Năm mới anh (Dominic Scriven, Dragon Capital – VFM)
  • Cám ơn Huy Nam đã có bài viết rất hay và ý nghĩa. Nhắc đến sông Sài Gòn, tôi nhớ đến ông bạn Liu Thai Ker, là kiến trúc sư trưởng và là cha đẻ của mô hình đảo quốc xanh của Singapore.  Ông ta có gợi ý phát triển một chuỗi thành phố chùm nho dọc theo sông Sài Gòn và có cả một hệ thống giao thông nối các thành phố bằng đường sông v.v … Khi ông Liu về hưu, tôi có đề nghị với anh Lê Văn Năm mời ông ấy làm cố vấn về thiết kế đô thị cho TP, nhưng rất tiếc là khi TP nhờ tôi chính thức chuyển lời mời thì ông Liu đã nhận lời làm cố vấn cho một số thành phố ở TQ rồi!  (Võ Tá Hân, Mỹ – Nguyên TGĐ Hong Leong Finance, Singapore).
  • Cảm ơn anh Huy Nam. Đề tài này nhức nhối bao lâu nay. Không biết có còn hy vọng không… (Trương Trọng Nghĩa, ĐBQH)
  • Bài rất hay anh Huy Nam ơi. Mừng là Kinh tế và Dự báo đã đăng lại đầy đủ. Ý kiến của anh cần được tôn trọng và thực thi để có được con sông đẹp và Thành phố đẹp. (Trần Văn Thọ, Giáo sư Waseda, Tokyo).
  • Cảm ơn Huy Nam đã cho tôi đọc một bài viết hay (Trần Trọng Thức, Báo KTSG)
  • Tôi rất tâm đắc bài viết này. Từ lâu mỗi lần đi dọc sông Neva thành St. Pétersbourg tôi luôn có mơ ước với Sông Sài Gòn, nhưng ngày càng thấy ước mơ của mình như hão huyền vì thực tế quá thất vọng… (Trần Du Lịch, ĐBQH)
  • Cảm ơn anh Huy Nam đã nói lên được những trăn trở chung đáng quý. Hẹn có dịp gặp lại anh – (Huỳnh Thanh Khiết, nguyên PCT Quận 2, Phó GĐ Sở XD TPHCM)
  • Cảm ơn anh Huy Nam. Bài viết chuyển tải thông điệp rất hay. Tôi sẽ chia sẻ bài viết với mọi người – (Giản Tư Trung – PACE)
  • Cảm ơn anh Huy Nam. Bài viết rất hay và súc tích – (Phạm Gia Quí, cựu Chánh toà Kinh tế TP.HCM)
  • Bài viết quá hay Anh! Những lập luận, đánh giá, phân tích sắc sảo trên nhiều mặt, có sức lôi cuốn người đọc. Có lẽ sẽ rất cần một nhà kỹ trị… (Bác sĩ Võ Thôi, Đà Nẵng).
  • Cảm ơn anh Huy Nam. Bài hay lắm, sẽ chia sẻ cho nhiều người đọc… (Đoàn Khắc Xuyên, Nhà báo KTSG)
  • Thiên hạ chỉ thấy cái trước mắt nên khai thác Sông SG dữ quá. Với cái đà tuyết tan ở hai cực trái đất như lâu nay thì sự sụt lở tại các bờ sông biển tại VN đã nhãn tiền và sẽ còn là nguy cơ. Huy Nam có dịp rảnh thì về Miền Tây xem ra sao. Biết đâu một hai năm nữa tui sẽ về và ở lại Núi Cấm. (Trọng Đan, Virginia).
  • Cảm ơn anh Huy Nam. Bài viết hay quá. Mong sớm thành hiện thực. (Nguyễn Minh Chánh, Khu DL Tân Cảng)
  • Cảm ơn anh Huy Nam. Bài viết và tầm nhìn hay quá. Mong Thảo Điền sớm được hưởng thành quả như bài viết. (Ng Văn Thưởng, Cty Trung Long)
  • Bài viết hay và ý nghĩa quá anh Huy Nam. Bắc rất mong Sông Sài Gòn từ ‘cô bé lọ lem’ sẽ mau chóng thành ‘nàng công chúa’ – (Lê Phương Bắc, PACE)
  • Bài viết của anh Huy Nam rất hay. TP Hồ Chí Minh muốn làm quy hoạch ven sông từ lâu mà không làm được vì vướng lợi ích nhóm. – (Ngô Viết Nam Sơn,  KTS)
  • Hoàn toàn nhất trí với anh. Em đã thuê thuyền chạy vòng quanh sông SG và thấy rất tiếc cho SG Đất ven sông là đất kim cương nhưng đang đc xây dựng vô tội vạ, nhếch nhác, xấu xí – Có cảm giác NN ko có quy hoạch từ vài chục năm trước, do đó nay chỉ chạy theo hiện trạng đã rồi,  cấm chỗ nọ, cho chỗ kia… Bờ sông thì xấu xí trong khi Tp thì thất thu một khoản khổng lồ đáng lẽ phải có từ việc quy hoạch tốt, tạo ra những bờ sông kim cương, sang trọng, đẳng cấp với các bến du thuyền, những công viên tuyệt đẹp và phía bên trong là những khu bds dành cho giới siêu giàu. Đựợc vậy Tp sẽ đẹp và NN thì thu đc kim cương… (Phạm Văn Thống, TGĐ, Cty Đầu tư và PT Du Lịch HTH)
  • Bài hay lắm, cách diễn đạt và viết ‘rất tới’ do có đầu tư nghiên cứu, rất có giá trị thực tiễn  (Đinh Văn Mười, cựu Phó TGĐ Vietcombank)
  • Tôi đã đọc kỹ bài viết của anh. Ý tưởng quá tuyệt vời, nếu tương lai thực hiện được thì sẽ là mơ ước của mọi người dân TPHCM và cả nước. Cảm ơn anh đã có một phác hoạ cho dòng sông (Đoàn Quốc Hùng, Quận 1, Sài Gòn) 
  • Tôi đã đọc được một bài báo rất ‘đã’ của anh Huy Nam. Cái khó của dự án là làm sao tránh được sự bức hại rộng hơn chứ không chỉ đoạn qua TPHCM. (Trương Chí Dũng Cty L&A)
  • Cảm ơn anh. Em đã đọc trên Báo Kinh tế Sài Gòn Xuân, rất thú vị. Em sẽ đọc lại – (Nguyễn Phương Lam, GĐ VCCI Cần Thơ)
  • Tuyệt vời quá anh, bài viết nhẹ nhàng mà sâu sắc.. Anh tâm huyết nên em tin bài viết sẽ chạm vào trái tim của những người thực tâm yêu Sài Gòn. (Phạm Oanh, Báo Đầu Tư, Hà Nội) 
  • Một bài phân tích và gợi mở quá hay. Em cảm ơn Thầy Huy Nam – (Hồ Ngọc Phương, P.TGĐ Cty XD Hoà Bình)
  • Cảm ơn anh về một bài đọc đầu Xuân. Sông Sài Gòn “cô bé lọ lem bên cạnh anh nhà giàu đô thị”, những thông điệp cảnh tỉnh đầy ý nghĩa anh à. (Phạm Duy Nghĩa, Luật sư, ĐH Fulbright)
  • Ôi, hay quá!… Anh nghiên cứu và viết thêm về giải pháp cứu thiên nhiên môi trường đi. Theo anh ‘dự án này nếu hoàn tất trong một nhiệm kỳ 4-5 năm tới sẽ là điểm son thành tích, xứng đáng được ghi vào lịch sử phát triển Sài Gòn” là tiếp nối cái cũ hay là một dự án mới anh? Vì em thấy chỉ một đoạn bờ kè 8 km từ Thủ Đức đến đầu Thủ Thiêm mà 7 năm không xong, nhiều nơi ởThảo Điền vẫn còn bờ đất. (Lê Hồng Hoa, Voelker)
  • Em đã xem các bài báo anh viết về sông Sài Gòn. Bài báo này quá hay. Đọc thấy rất thú vị, bởi vì nó là điểm yếu của sự thiếu vắng trách nhiệm lâu nay. Em nghĩ, trách nhiệm này thuộc về mấy ông quy hoạch, cảnh quan đô thị, và cả các sếp ở trên. (Ngô Viết Tiến, San Diego)
  • Bài Sông Sài gòn anh viết rất hay. Cái giá bức tử dòng sông sẽ không thể tính hết được. Cảm ơn anh Huy Nam chia sẻ. (Trần Việt Ký, P.TGĐ Cty Logistic HDL, Hải Dương)
  • Cảm ơn Huy Nam về bài viết giá trị về Sông Sài Gòn – (Young Nguyễn, Irvine)
  • Ui, bài viết về Sông Sài Gòn hay quá anh (Nguyễn Thanh Thảo, TGĐ Cty CK Thiên Việt)
  • Hay quá anh Huy Nam, một bài viết rất thấu lý đạt tình, đúng chất Huy Nam (Trần Hoàng Ngân, ĐBQH)
  • Bài viết rất chí lý. TP phải thực hiện cho được bức tranh này thì mới ghi được dấu son. Nước và không khí không là món quà thiên nhiên ban tặng free cho con người. Ai (DN và người dân) xả thải, ai thờ ơ thì đồng nghĩa với việc tước đoạt món quà quý giá thiên nhiên ban tặng. Cảm ơn a Huy Nam. (Nguyễn thị Mai Thanh, CT HĐQT Cty REE).
  • Đã đọc những bài viết về Sài Gòn của Tác giả Huy Nam. Rất hay, gợi hình, gợi nhớ và gây xúc động. Tôi trân trọng một tấm lòng son với đất nước và con người. Kính chúc mọi sự thiện lành. Trân trọng và rất quý. (Luật sư Trương Thị Hòa).
  • Và còn rất rất nhiều feedback ngắn gọn khác của các anh Trần Hữu Quang, Trần Ngọc Châu, Trương Công Đinh, Nguyễn Anh Tuấn… 

https://kinhtevadubao.vn/song-sai-gon-cho-mot-dau-son-cai-cach-11138.html

 

18/02/2021 Trang chủ Dự báo kinh tế 

Sông Sài Gòn chờ một dấu son cải cách 

 Một dự án tổng thể tôn tạo đôi bờ tả hữu với hai trục đường dọc sông Sài Gòn đang là mong đợi không chỉ của người dân Thành phố. Đây sẽ là điểm nhấn giúp bật sáng bộ mặt đô thị, là giải pháp căn cơ bảo vệ dòng sông, cải thiện môi sinh, chế ngự các cơn triều cao sóng dập. Dự án này nếu hoàn tất trong một nhiệm kỳ 4-5 năm tới sẽ là điểm son thành tích, xứng đáng được ghi vào lịch sử phát triển Sài Gòn.

Sông Sài Gòn oằn mình đợi ngày… hóa kiếp

Nhìn từ trên cao, sông Sài Gòn uốn lượn như dải lụa sinh động trước khi hợp lưu vào ngã ba Nhà Bè Đồng Nai, tạo nên một vùng hạ lưu vực quý giá dài ra tới biển. Xuôi về cuối nguồn là ‘bộ rễ’ kênh rạch đan sâu vào hai bờ tả hữu, tạo ra các vùng đất lành quần cư không riêng cho con người…

Nhờ vậy, từ giữa thế kỷ 17 phố thị Sài Gòn đã hình thành giữa hai rạch Bến Nghé và Thị Nghè. Tuy vậy, cho đến trước năm 1975, và sau đó vài chục năm nữa, việc phát triển Sài Gòn chủ yếu là phía bờ Tây. Vùng đất trù phú phía đông có địa hình đẹp vẫn còn khá hoang sơ như chính số phận dòng sông. Đó một phần vì chiến tranh, vì cuộc sống lúc ấy còn nặng cơm áo, cả nguồn lực và sự lãng mạn chưa đủ để thăng hoa sông nước. Mặt khác là phương tiện vượt sông nghèo nàn, là thiếu các cây cầu. Một thành phố lớn và quan trọng nhất nước, nổi tiếng năm châu, mà đến đầu năm 2012 từ Quận 1 qua Quận 2 phải bằng ghe và phà. Và cho tới nay, số cầu bắc qua bờ Đông vẫn kém xa Đà Nẵng. Tiếc!

Nếu tình trạng triệt hạ kênh rạch, lấn chiếm sông nước (vì bất cứ mục đích hay lý do gì) không được chặn đứng sớm thì di chứng sẽ khôn lường

Không phải ngẫu nhiên mà phố thị được lập ở nơi có sông nước. Đây là chuyện không mới, không khó hiểu, và ta sẽ có dịp trở lại ở phần sau. Tuy nhiên, điều có thể xem ngẫu nhiên là dáng vẻ gợi mỹ cảm của con sông. Theo đó, trước khi trả nước về cho biển, sông Sài Gòn như có chút luyến tiếc dùng dằng, tạo ra thế đất ‘tứ quý’ quanh co với bốn bán đảo Thanh Đa, Thảo Điền, Thủ Thiêm, Tân Thuận. Sự tạo dáng ấn tượng qua các địa hình bầu diều, với sông nước bao bọc như vậy, được người mình tin là hợp phong thuỷ, còn dân Tây thì quan tâm môi sinh (môi trường sinh thái), và việc cả tây lẫn ta chuộng ở Thảo Điền là điều không lạ. Bởi nhờ môi trường mát dịu, nhiệt độ tại đó vào những ngày nắng nóng thường thấp hơn nội phố trên dưới 3°C. Có thể nói, trong điều kiện chen chúc đến ngột ngạt như ngày nay, việc người ta chọn nơi sông nước để sống là nhu cầu, chứ không chỉ là thời thượng.

Ngược với sự lãng quên ngày trước, từ khi được nhìn nhận đúng giá trị kinh tế và môi sinh, những vùng đất tương tự như tứ quý ‘4T’ kia đã nhanh chóng trở thành đất vàng. Với dự hướng quy hoạch của thành phố và nhịp độ phát triển nhanh như lâu nay, chẳng bao lâu nữa khi phố xá bên bờ Đông lên com-lê sánh với bờ Tây, sông Sài Gòn sẽ sắm vai là điểm nhấn nằm lọt giữa lòng Thành phố. Nhưng dù sao thì bản thân dòng sông cũng chỉ mới là của Trời cho chân chất. Việc nó có được thắp sáng lung linh, có thêm nét duyên, để bật lên bằng anh bằng chị hay không sẽ còn rất tuỳ thuộc, lắm thử thách…

Nếu tình trạng triệt hạ kênh rạch, lấn chiếm sông nước (vì bất cứ mục đích hay lý do gì) không được chặn đứng sớm thì di chứng sẽ khôn lường. Bởi, một khi yếu tố tự nhiên bị xáo trộn, môi trường thiên nhiên xấu đi, quân bình sinh thái sẽ không còn, nước không còn (hay còn nhưng ở dạng ‘dung dịch’), lúc đó dù ta có nhiều tiền cũng không dễ tái tạo. Không đợi tương lai xa, việc xâm hại và hoang phí của Trời cho “chưa bao giờ là nguồn vô tận này” lâu nay đã như việc cắn vào đuôi mình để sống, là cách ăn xổi phúc lợi của tương lai, gây hậu quả nhãn tiền. Các thực tế như vậy có nhiều. Đô thị lại không thể thiếu sông nước, và khi cảm hứng về sông bị thực tế thảm hại tước đoạt sẽ là lúc cuộc sống lên tiếng.

Sông Sài Gòn là con sông thuần Nam Bộ, có đầu nguồn từ Lộc Ninh. Đây là dòng sông hiền hòa, nhưng đó chỉ là chuyện hồi xưa mà nay đã khác. Xưa, con người và sông dựa vào nhau thân thiện. Vào mùa nước cao từ nguồn xuống hay triều dâng từ biển lên, con người đã dành kênh rạch để sông tràn vào, trong đó không ít là kênh đào. Nay, việc san lấp không thương tiếc diễn ra phổ biến sẽ dễ đặt kênh rạch vào nguy cơ ‘tuyệt chủng’. Chùm rễ kênh rạch đan dày hai bờ tả hữu hạ nguồn đã chết dần. Chỗ nào còn sót lại thì đầy rác và chất thải đen ngòm hôi thối, nằm ngay sau lưng nhiều dãy phố sang trọng.

Con người một mặt bức hại nước sông với đủ cách xả thải, mặt khác xoá phần lớn vùng điều hòa dọc hai bờ với hằng loạt công trình san lấp. Cả một vùng rộng lớn cuối nguồn phía nam có chức năng dự phòng tràn nước mùa triều cao, để gánh ngập cho nội phố, đã bị bê tông hoá. Khu vực trước kia là vùng kho bãi phục vụ hệ thống cảng (Khánh Hội và Tân Thuận) bị ngập sớm nhất, nặng nhất, và sẽ khó khắc phục. Nhiều địa danh chứa nước như Kỳ Hòa, Miếu Nổi, Bàu Cát, Đồng Ông Cộ… nay không còn thấy nước, hay chỉ thấy lúc mưa xuống, triều lên! Việc tranh thủ yếu tố ‘cận sông’ của các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, giết mỗ, chế biến mủ cao su, tinh bột mì, đã làm cho sông ô nhiễm nặng. (Đơn cử như trường hợp Công ty Nông sản Việt Phước trước đây, cand.com.vn/vietphuoc… 20/07/2016).

Không còn chỗ điều hoà, chứa tạm, sông phải oằn mình gánh chịu nước từ biển lên, trên nguồn xuống, nó buộc phải tràn vào phố, vào nhà dân. Chống ngập mà tình thế cục bộ kiểu “be bờ tát nước” như chiến đấu với cối xay gió sẽ trường kỳ, khó dứt. Ngập lụt thật ra không chỉ tại các vùng ven như báo chí thường nói mà ngay trung tâm Quận 1, Quận 5 cũng lênh láng nước triều. Thế nhưng, thay vì nhận lỗi về mình, ta cứ đổ cho trái đất ấm dần lên, dù theo các nhà khoa học nước biển mỗi năm chỉ tăng trên dưới 1mm.

Trước thực trạng như vậy, chưa thấy có một giải pháp toàn diện hay biện pháp căn cơ để bảo vệ và tôn tạo sông. Với hàng chục dự án đô thị lớn nhỏ ven bờ, và trong khi ngân sách còn hạn chế, chưa thấy có chủ dự án nào bị buộc phải kè bờ kiên cố, tôn tạo mỹ quan cho khoảng sông rạch mà họ trực tiếp hưởng lợi. Việc nở rộ nhiều dự án bất động sản vừa qua là đáng mừng. Tuy nhiên, do quá chú trọng ‘diện tích sàn’, do quản lý cát cứ và lỏng lẻo, đã tạo ra một thực tế không vui, đó là… phố xá càng phát triển thì sông nước càng bị hắt hủi, bị biến thành chỗ chứa rác ngoại khu hay phía ngoài nhà. Ngồi ở Thanh Đa hay Tân Cảng vào những lúc nước xuống sẽ rất dễ nghe mùi hôi xông lên từ vùng bờ cạn.

Chờ một dấu son cải cách

Dự án cải cách Sông Sài Gòn nếu hoàn tất trong một nhiệm kỳ 4-5 năm tới, sẽ là điểm son thành tích, xứng đáng được ghi vào lịch sử phát triển Sài Gòn

Xưa, sông nước được chọn lập phố là để tiện giao thương. Nay, đó còn là điểm nhấn, là nơi để thở của thị dân. Và, khi cái ở không còn là chỗ ngã lưng đơn giản, khi lạc phúc thư giãn được chú trọng, sông nước sẽ lên ngôi. Các thành phố không có sông sẽ cần hồ: Lớn và ấn tượng như Wakatipu phía Nam Queenstown, Tân Tây Lan; nhỏ mà thơ mộng như Xuân Hương Đà Lạt. Không có hồ tự nhiên người ta phải đào hồ để có mặt nước, như Las Vegas ở Mỹ, Canberra của Úc, hay Putra Jaya tại Mã Lai.

Không dám mơ được tiếng lãng mạn như Danube Bleu bên trời Âu, như dòng Seine qua Paris, hay Thames xứ sương mù. Chỉ xét về phúc lợi môi sinh, về cảnh quan đô thị và giao thông thuỷ bộ, cho phép người dân Sài Gòn có mong đợi về một dòng sông sẽ được như sông Rhein ở Đức chảy qua Koln hay Dusseldorf, sông Hoàng Phố ở Thương Hải, Mekong qua Phnom Penh. Hoặc ít ra như Sông Hàn của Đà Nẵng, Hương Giang ở Huế, và khiêm tốn như Cà Ty Phan Thiết. Đây là tình tự tự nhiên, đẹp, và gần gũi với nơi mình sinh sống. Không là ganh tỵ, tình tự trong sáng này thường có khi thấy mình bị thua kém không đáng về điều gì đó. Chẳng hạn, ai đã từng thả dọc bờ sông Hàn, rong ruổi Bà Rịa Vũng Tàu, đi lại các trục lộ cửa ngõ quanh Hà Nội đều có chút tâm tư, chua xót cho cầu và đường Sài Gòn.

Sông Sài Gòn bấy lâu nay như cô bé lọ lem sống cạnh anh nhà giàu lầm lũi cam chịu như kẻ ‘ở đậu’ trên đất mình với bao nỗi niềm chờ được quan tâm. Về vị trí, nó nằm giữa lòng Thành phố và không mấy khác so với sông Hàn chảy qua Seoul hay Sumida ở Tokyo. Nhưng sự rực sáng của sông Hàn và Sumida nếu được xem là niềm kiêu hãnh của Seoul và Tokyo thì đó vẫn còn là giấc mơ xa của Sài Gòn.

Một dự án tổng thể tôn tạo đôi bờ tả hữu với hai trục đường dọc sông thiết nghĩ đang là mong đợi không chỉ của người dân Thành phố. Đây sẽ là điểm nhấn giúp bật sáng bộ mặt đô thị, là giải pháp căn cơ bảo vệ dòng sông, cải thiện môi sinh, chế ngự các cơn triều cao sóng dập. Dự án này nếu hoàn tất trong một nhiệm kỳ 4-5 năm tới sẽ là điểm son thành tích, xứng đáng được ghi vào lịch sử phát triển Sài Gòn./.

Huy Nam, Chuyên gia độc lập – Giảng viên PACE – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế VN – VIAC.

https://kinhtevadubao.vn/song-sai-gon-cho-mot-dau-son-cai-cach-11138.html

Miền Trung, cơ hội vẫy chào…

Miền Trung, cơ hội và quá trình tìm lại mình

Về mặt địa lý, miền Trung được xem là nơi có một số bất lợi về thời tiết, chủ yếu là nắng hạn và bão lũ… Có lẽ vì thế mà ít có ai nhắc đến “cơ hội” ở đó? Thật ra thời tiết chẳng đáng tội để suy diễn như vậy. Bởi vì nếu so sánh với nhiều vùng đất khác trên thế giới, chẳng hạn như Đài Loan, thời tiết miền Trung có thấm gì là khắc nghiệt!

Trong khi miền Trung đang cho những dấu hiệu sẽ là vùng có nhiều cơ hội, thì ta hãy nhớ lại rằng trong quá khứ đây là vùng đất từng được xem là “lành” của nhiều tầng lớp, chỗ dừng chân của các vương triều, là cảng đến của nhiều khách viễn dương,… tất cả những thứ đó đã tạo ra và để lại hậu thế những trung tâm thu hút. Vậy tại sao cô gái miền Trung lại phải lận đận một thời với giấc ngủ dài và có vẻ như chưa lọt nhiều vào mắt ai ?

Trước tiên là chiến tranh. Suốt trong thời kỳ chiến tranh hơn 20 năm, miền Trung là vùng đệm giữa hai cực đất nước. Thời đó khi nghĩ về miền Trung, người ta quen hình dung ngay đến một vùng khô cằn lửa đạn. Giữa sự tàn phá của thiên tai và chiến tranh chết chóc, với một địa lý hẹp bị cho là khó ở, thì việc chọn lựa thường là ra đi… Như vậy thì còn ai dám nghĩ đến cơ hội ở đó. Tuy thế, ta cũng nên nhớ lại lúc đó, một số đô thị lớn của miền Trung vẫn còn là những nơi có sức thu hút người miền trong ra làm ăn và học tập hoặc người miền ngoài vào định cư, trong đó nổi bật như Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt. Nhìn chung, mức sống thời đó tại các nơi này hầu như không có sự khác biệt. Không ai nghĩ dân Sài Gòn có đời sống kinh tế và văn hóa cao hơn dân Huế, Đà Nẵng, Nha Trang. Không thấy tâm lý nghèo khó quá đáng,

Cho đến thời bao cấp… Trong khi kinh tế địa phương không thể phát huy theo thế mạnh mà chỉ dựa vào nỗ lực ý chí, các đô thị gần như đã đứng yên hoặc thậm chí phải lùi lại …để đợi nông thôn! Do đặc điểm tình hình, việc ra biển, lên núi, di chuyển tới lui làm ăn đều khó khăn. Vào thời kỳ chật vật này, kinh tế (và cả đời sống xã hội) bị lệ thuộc nặng vào lãnh vực “đệ nhất đẳng” (nông nghiệp). Kinh tế miền Trung cũng không có gì nổi trội hơn nông nghiệp, tuy không đói, nhưng không khá được, vẫn nghèo. Bởi vì, thật ra sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là lương thực và các ngành chế biến theo đó, không phải là lợi thế của miền Trung. Những lợi thế so sánh về cung ứng hàng hóa cho nhu cầu nội địa (nội thương) cũng không có hoặc rất kém.

Thêm vào đó, một lần nữa nền kinh tế bao cấp mặc nhận các cực thu hút và chi phối vẫn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Miền Trung là phần đòn gánh ở giữa rất ít “thịt”. Trong thời kỳ này do phải xoay xở với các nhu cầu cơ bản, cùng với một thị trường địa phương hẹp, cho nên kinh tế dịch vụ chậm hoặc không khuyến khích phát triển, nhất là các dịch vụ đáp ứng nhu cầu mức sống cao, như mua sắm, thông tin, y tế, giáo dục, giải trí, thẩm mỹ… Một số đông các “dân cư chọn lọc” tại chỗ, có đầu óc năng động, có tiền và nhu cầu cao hơn lại tìm cách chuyển đi định cư hoặc đến làm việc tại các vùng đất khác có khả năng đáp ứng. Điều này ít nhiều vừa làm sâu sắc, vừa gây ảnh hưởng tiếp tục đến một giai đoạn chuyển tiếp mới khác như được phân tích sau đây.

Giai đoạn chuyển tiếp đó là thời kỳ chuyển đổi và mở cửa phát triển kinh tế. Giai đoạn này bắt đầu vào cuối thập niên 1980, được đánh dấu bằng Luật đầu tư nước ngoài hiệu lực từ năm 1987. Đặc trưng của giai đoạn là kinh tế trong nước cởi mở và khởi sắc hơn nhờ đầu tư nước ngoài (FDI) đưa vốn và kỹ thuật vào. Năm 1990 lại có thêm Luật Công ty, giúp khuyến khích và khơi dậy một lượng vốn không nhỏ trong nước để bổ sung vào quá trình trỗi dậy đó. Nhưng miền Trung lại được hưởng rất ít, thậm chí nhiều nơi gần chục năm đầu không được nhờ gì nhiếu ở quá trình chuyển mình đó. Tại sao vậy?

Trước tiên, theo lẽ thường, động thái của nhiều nhà đầu tư ở các thị trường mới nổi đều giống nhau: ưu tiên ‘canh tác’ thứ gì dễ ăn, có lợi hấp dẫn, đầu tư nhỏ, hoàn vốn nhanh… Họ chọn những vùng có độ tập trung về tiện ích hạ tầng và nhân lực cao, ngay tại hoặc gần các vùng trọng điểm. Theo đó, TP Hồ Chí Minh và Hà Nội có lợi thế vượt trội. Tuy vậy, đây chưa hẳn là những miếng “nạc” xét về mặt tầm nhìn và hiệu quả kinh tế. Dù sao ta cũng thông cảm, khi họ mạo hiểm vốn vào một môi trường mới chuyển đổi và xa lạ như Việt Nam, lẽ đương nhiên họ sẽ chọn bước đi và phương án ít rủi ro nhất.

Kế đến, từ hai vùng tập trung vừa kể, nhà đầu tư có thể chọn thêm các vùng phụ cận, thuận tiện đi lại và sử dụng được lợi thế có sẵn. Sự chọn lựa này có lý do quan trọng vì yếu tố ‘hậu cần’. Ví dụ, hạ tầng phục vụ và nguồn nhân lực ở Sài Gòn có thể đảm bảo cho họ yên tâm đầu tư ở Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu, thậm chí Phan Thiết, Nha Trang… Các nơi xa hơn ở miền Trung, như ta đã nói, kinh tế dịch vụ thời đó còn thiếu và kém quá, không đủ lực để bắt và nuôi đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài. Nhiều nơi chưa có các điều kiện và phương tiện phục vụ tốt, hoặc nếu có thì khá đắt đỏ, do lâu lâu mới kiếm được một khách “tây” nên phải thu cao để bù chi phí chờ khách. Từ báo chí, liên lạc thông tin, phương tiện, nhu cầu trao đổi,… đến mua sắm, giải trí, sinh hoạt gia đình đều rất hạn chế. Nói chung không đáp ứng nhu cầu sống cho người nước ngoài đến ở lại làm việc, sinh hoạt và xài tiền! Đó là chưa nói đến yêu cầu về phẩm chất phục vụ và nhân sự lành nghề. Đặc điểm này dễ thấy khi ta để ý chỉ có một số vùng (của miền Trung) nằm trong tầm với (dịch vụ phục vụ) của Sài Gòn hoặc Hà Nội mới tận dụng được một ít thời cơ nhất định.

Trong các giai đoạn có tính bối cảnh trước đây, từ chiến tranh đến thời co cụm và giai đoạn mở cửa, miền Trung còn bị hụt hẫng khá nặng hoạt động xúc tiến và phát triển thị trường. Ngay như việc giao dịch làm ăn với nhau trong phạm vi quốc nội cũng không mấy sáng sủa. Chẳng lạ, khi điều kiện kinh tế chật vật, người dân còn loay hoay với nhu cầu cơm gạo cơ bản, ít di chuyển, ít đi làm ăn xa, hạn chế du ngoạn du lịch… thì dù được xem là vùng đất tiềm tàng tiềm năng, hoạt động kinh tế thương mại tại chỗ cũng khó phát triển. Hướng ra đã không lợi thế, đón về thì không dễ, trong điều kiện thu hút khó và thu nhập đến từ ngoài vùng (inflow) kém như vậy, tình trạng ra đi tìm đất hứa cùng với việc mang tiền tiêu xài nơi khác cứ tiếp diễn. Thực trạng ‘outflow’ này (tài chánh và nguồn lực nói chung đội nón ra đi) làm cho dải đất miền Trung chùng xuống thành niềm thương nỗi nhớ ví như …khúc ruột.

Trên đây là bức tranh kinh tế miền Trung của quá khứ, nay (thời đểm 2000) hoàn cảnh đã thay đổi. Trước hết, có những dấu hiệu lạc quan cho thấy kinh tế đất nước nhìn chung đã sáng lên, thoát khỏi vòng lẩn quẩn với các nhu cầu cơ bản (cái ăn, cái mặc, cái tồn tại). Điều kiện kinh tế tốt hơn thì cơ cấu về nhu cầu của dân chúng sẽ thay đổi và được nâng lên. Môi trường kinh tế cải thiện sẽ khuyến khích đi lại, chẳng những giúp mở rộng địa bàn làm ăn theo hướng vươn xa, mà các hoạt động tiêu dùng (xài tiền) cũng không còn bó hẹp theo “cự ly” như trước nữa. Lúc này, các thế mạnh của miền Trung có điều kiện thức dậy, sánh ngang hoặc có thể vượt hẳn với nhiều vùng khác nếu xét đến lợi thế so sánh của thời đại công nghiệp và dịch vụ. Đó là về du lịch nghỉ dưỡng, văn hóa lịch sử, khai thác nguyên liệu, công nghệ chế biến, thủy hải sản, công nghệ thông tin, v.v…

Điểm không lợi thế trước đây trong thời kỳ “đệ nhất đẳng” thì bây giờ sẽ là lợi thế. Đất không thể trồng trọt gì được nay là khu công nghiệp, phức hợp dầu khí, nhà máy đóng tàu, thậm chí là khu kinh tế đặc biệt. Dải đất hẹp, ốm o, nay chính là cô gái mảnh khảnh, duyên dáng. Miền Trung với hơn 1.000 cây số bờ biển, với những bãi tắm tuyệt vời tắm được quanh năm, hơn hẳn nhiều nơi trong nước và thế giới, luôn sẽ là vùng làm nao lòng khách thập phương, thu hút họ đến, giữ chân họ ở lâu và quay lại.

Điểm dọc theo duyên hải đó là những thương cảng vang bóng một thời. Lại nữa, lịch sử và cả chiến tranh đã để lại cho miền Trung một kho tàng văn hóa và di sản di tích quý báu, xếp vào loại tài sản quốc gia quốc tế, như Huế, Hội An, Mỹ Sơn, Trường Sơn Tây Nguyên, Tuy Hòa, Bình Định, Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, với núi rừng, hang động, biển đảo, các quần thể tôn giáo, sắc tộc, tâm linh… Nhiều nơi ở miền Trung đã từng là chứng nhân, vui có buồn có, của nhiều lượt viễn khách viễn chinh, nay họ có thể sẽ là bạn cố tri của các vùng đất này. Người Pháp, Mỹ, Hoa, Nhật, Hàn Quốc, Anh, Hà Lan, Bồ Đào Nha… có thể có nhiều kỷ niệm và muốn tìm lại dấu tích một thời tại nhiều địa danh xưa. Các ngành văn hóa và du lịch địa phương có thể ‘gợi ý’, xây dựng và chuẩn bị những kế hoạch ý nghĩa khác nhau để chào đón họ.

Công cuộc chấn hưng nói chung, cùng những chính sách điều phối vĩ mô dành cho miền Trung, sự tương tác nhờ xu thế hội nhập, như các hành lang đông tây, cùng với nỗ lực của các cấp địa phương, đã tạo thêm sức mạnh và cơ sở để tin rằng vận hội miền Trung đang là một hiện thực thuyết phục. Hiện thực đó sẽ đậm nét hơn khi ta có thêm đường xuyên Việt thứ hai dọc Trường Sơn, khi Dung Quất đã bơm được thứ nhiên liệu “tốc độ” vào nền kinh tế, người dân ra bắc vào nam không còn phải gian khổ nhiều ngày ngồi xe một khi ‘con đường cái quan’ nối liền cả nước đã phẳng phiu… Ngươi miền Trung đã ra đi làm ăn xa, nay dù thế nào cũng không ai quên ‘khúc ruột’ của mình, sẽ còn là một nguồn lực thu hút châu về…

Khi “gạo” không còn là vấn đề thì ván cờ kinh tế chung có thể đồng thời được sắp lại. Miền Trung sẽ có điều kiện phát huy thế mạnh của mình. Vận hội mới có thể đặt ra nhiều việc còn phải bàn, cả việc làm dịu những băn khoăn như “đằng sau cánh cổng chào và những cái bắt tay sẽ là gì?”. Dẫu sao miền Trung nay đã có cơ sở để lạc quan, cho dù ngày mai sẽ có thêm các cơn mưa dầm, bão lũ. (Lâu nay ta chỉ quen nghe miền Trung bão lụt, thật ra lũ ngập úng miền Tây hoặc lũ quét tại một số vùng cao phương Bắc cũng là nỗi khổ triền miên của bà con tại những vùng đó).

Gần đây ta có thể thấy đã có một sự đi ngược trở ra, vì sự hấp dẫn của những vùng đất mới hơn là thuần mưu sinh. Theo đó nhiều người từ miền Tây đã di trú làm ăn hoặc đi lập nghiệp tại Lâm Đồng, Bình Phước, Daklak… Biết đâu một ngày kia không xa nhiều nơi khác ở miền Trung cũng sẽ được chọn là đất để châu về của nhiều người trong nam ngoài bắc. Như vậy, cơ hội miền Trung hay sẽ còn là cơ hội của ai…

Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn Xuân Tân Tỵ 2001

 

Từ Tao Đàn nhìn ra cửa ngõ SG

Từ Tao Đàn nhìn ra cửa ngõ Sài Gòn… 

Sau hàng chục năm bị ‘bế quan’ giữa lòng thành phố, từ năm 2004 người Sài Gòn TP Hồ Chí Minh sẽ không còn ‘xa Tao Đàn’ nữa (*). Tiếp theo việc khai thông đọan đường xẻ qua mảng xanh ‘nguyên sinh’ này, Tao Đàn sẽ được nhận lại không gian cố hữu của mình. Bố cục thành phố nhờ đó có dịp tìm lại ý tưởng giao hòa.

Ngày trước, không gian cao ráo phía bắc Tao Đàn, kéo dài đến đường Kỳ Đồng, là những ô phố đẹp để ở của Sài Gòn. Phía nam là khu thương mại dịch vụ và hệ thống thương cảng thấp dần ra biển. Hai không gian ‘chức năng’ này được kết lại nhau bằng một tấm thảm xanh trải từ Vườn Ông Thượng (Tao Đàn) đến Sở Thú (Thảo Cầm Viên). Đây là khu hành chánh văn hóa của Sài Gòn xưa. Sự sắp đặt ý tứ như vậy cho thấy các nhà kiến thiết đô thị tiền bối đã có tầm nhìn quy hoạch có hậu, rất khoa học và hiện đại. Về sau, làn sóng nhập cư của người Hoa đã hình thành nên khu thương mại phía tây, với đặc trưng nhiều hàng quán, nay là Quận 5. Cách nói “ăn Quận 5, ở Quận 3, ra vô Quận 1” là vậy. Nhưng về sau cảm khái này phần nào đã bị xáo trộn.

Các ý tưởng theo thời gian có thể dịch chuyển hoặc thay đổi là điều khó tránh. Tuy nhiên, cái chính là một khi công năng ‘khu nối kết ở giữa’ (khu hành chánh văn hóa Sài Gòn cũ) không còn được như xưa, cùng với giai đọan ‘kinh tế khép’, một Tao Đàn ‘bít bùng’ đã góp phần làm phân cách các không gian. Từ đó bố cục thành phố phần nào đã bị rời rạc. Giao thương, hay đúng hơn là sự giao hòa bị gián đoạn, đã làm cho cái hồn của từng không gian phố cũ ít nhiều bị tổn thương. Có lẽ do vậy nên nhiều khu để ở nổi tiếng trước kia tại Quận 3 (quanh chùa Xá Lợi) đã ‘tự túc phát triển thành khu ăn uống’. Đồng thời các ‘da beo’ thương mại hay giải trí nay được ‘xen canh’ giữa khu công sở, ngọai giao, lãnh sự, bảo tàng, văn hóa (quanh nhà thờ Đức Bà)… Và Tao Đàn (kể cả khu Cercle Sportif cũ, tức Nhà Văn Hóa Lao Động hiện nay) cũng không là ngọai lệ, bị ‘tùng xẻo’ vì cơm gạo với đủ kiểu buôn bán hay hội chợ.

Nhưng tại sao có việc ‘xa Tao Đàn’? Là vì kể từ ngày bị ‘rào lại’ hầu như người dân thành phố không còn ‘gặp Tao Đàn’. Họ cũng không biết số phận khu công viên gần 10 ha này sẽ ra sao? Công bình mà nói, trong thời gian ấy nhiều người cũng có lui tới khu này, nhưng đa số họ chỉ “đi chợ” (những dịp có hội chợ) hơn là đi “Tao Đàn”. Một ít người vào đây đi dạo hay tập thể dục thường là dân sống gần đó… Tiếc rằng Tao Đàn không phải chỉ dành cho những người có nhà gần! Trước đây ai cũng có thể ‘thưởng thức’ Tao Đàn. Sự thật là chính con đường xẻ qua nơi này đã cho người thành phố chút hạnh phúc hiếm hoi, chút cảm giác thóat phố thoáng chốc rất thú vị. Những khỏanh khắc nhẹ nhàng như vậy còn rất thân thiết trong ký ức nhiều người, nay họ sẽ có lại. Tao Đàn như đang mở lòng để tình cảm người thành phố hòa vào. Do vậy, việc trả lại vẻ tao nhã cho cả quần thể này (gồm khu ‘Cercle’ cũ) mới là ý nghĩa lớn, chứ không chỉ có mở đường.

Mở Tao Đàn, thành phố có thêm một không gian đi bộ đẹp đáng kể. Chút thiên nhiên dịu dàng giữa bề bộn phố này chắc chắn sẽ làm cho Sài Gòn duyên dáng hơn. Có thể tìm ở đây chút nhàn tản, ít thư giãn, tiếng ve kêu hè, cái rợp mát giữa trưa, hay cái thú nhìn sóc bay trên cao vào lúc xế chiều (không rõ nay có còn?). Cần biết, có lẽ do được xem là một phần Tao Đàn, trước đây đoạn đường qua công viên là một đọan riêng biệt không có tên, mặc dù nó liên thông với đường phía nam (khi ấy là Trương Công Định) và đường phía bắc (là Đoàn Thị Điểm). Điều ngộ nghĩnh, sau khi ba đoạn đường độc lập kia được ghép lại thành một đường Trương Định, thì thực tế có tới ‘hai ông Trương Định’ hai bên, và đoạn giữa này chẳng có trên bản đồ!

Cùng với Tao Đàn, chính quyền thành phố cũng có quyết định ‘phá rào’ các công viên khác. Nhờ vậy các ‘bộ lọc’ của thành phố sẽ họat động trở lại để phục vụ thị dân. Sự thóang thông trong cái nhìn về đô thị này như thêm một lần thành phố mở cửa đón gió mới, tạo cảm nhận tốt hơn, thu hút hơn, là điều đáng mừng. Nhưng với vai trò là cửa ngõ, Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh lại đang thiếu những “cửa ngõ” riêng cho mình, những đường đi lối về xứng tầm đón chào bè bạn.

Thông tin về việc mở rộng đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (NNKN) và xây cầu Công Lý thành một “cửa ngõ đẹp” của Sài Gòn là tin vui, nhưng cũng đã gợi lên ít nhiều băn khoăn. Thứ nhất là về giao thông (nhiều ý kiến cho rằng không cần phải tốn cả ngàn tỷ cho vài km đường, vì chỉ cần mở đường Trần Quốc Tỏan, nắn lại chiều cho NKKN, thông cặp đường hai bờ Nhiêu Lộc…sẽ giải quyết được vấn đề) và thứ hai là về ‘cửa ngõ’. Cửa ngõ mà lọt thỏm vào trung tâm thì e chưa phải. Các cửa ngõ đúng nghĩa của thành phố, là phi trường, hải cảng, đường sắt, đường bộ, thì lại còn quá bề bộn. Ai đi hay về Sài Gòn bằng đường bộ hay đường sắt cũng sẽ dễ có cảm nhận mệt mỏi hay một tâm lý hỗn tạp không thỏai mái. Nói cho cùng thì đi máy bay về cũng vậy!

Nếu Sài Gòn có hơi xao lãng với những ‘mặt tiền’ của mình như vậy, thì Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Nha Trang, Bình Dương, Biên Hòa, Vũng Tàu… đã rất tập trung để có những con đường là cửa ngõ đẹp mời chào từ xa. Một cửa ngõ ấn tượng, xinh đẹp và có hồn, sẽ cho người đến chút bồi hồi và kẻ đi nhiều lưu luyến. Sau khi các công trình cầu đường Bình Triệu và song hành Hà Nội bị bế tắc, chưa biết hai cửa ngõ ‘ăn nói’ này của Sài Gòn đến bao giờ mới thôi mặc cảm? Đã vậy tất cả các công trình đón Sea Games lại chỉ được nhét vào trong lòng phố. Sài Gòn tiếp tục ‘nặng’ phía bờ Tây nhưng còn quá ‘nhẹ’ phía các cửa ngõ. Mai này lại thêm métro về Quận 1, dễ có cảm giác như khu trung tâm này phải đón khách bằng không vận và địa đạo vận!

Điều đáng mừng là Sài Gòn dù có lịch sử hơn ba trăm năm vẫn duy trì sức sống như một thành phố trẻ. Nếu trăm năm trước người ta ví nơi đây như ‘hòn ngọc Viễn Đông’ thì nay chưa phải điều đó đã không còn giá trị. Ngòai tầm vóc và sức sống, với vị trí liêp lập trong tổng thể khu vực Đông Nam Á–Thái Bình Dương, đầu mối dãi bao lơn ra vào lục địa của cái ‘ao’ chung này về lâu dài vẫn là ‘hòn ngọc’ hấp dẫn giao thương. Sài Gòn sẽ vẫn là cửa ngõ cho và nhận cơ hội. Tuy nhiên, điều đó không phải “tự nhiên hương” mà chỉ có từ các nỗ lực trở mình…

Huy Nam, 2004

(*) Đoạn đường tới lui Tao Đàn đã bị rào lại từ sau năm 1975 đến năm 2003.

 

Sài Gòn không chỉ có bờ tây

Sài Gòn không chỉ có bờ Tây

Ai cũng biết xưa nay sông Sài Gòn vốn hiền hoà, nhưng lại ít ai nhắc đến dòng sông còn có một kết thúc ấn tượng: Trước khi nối vào hợp lưu sông Đồng Nai và sông Nhà Bè để trả nước về cho biển cả, ở đoạn ngắn cuối cùng chảy qua trung tâm Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh, dòng sông bỗng trăn trở, như luyến tiếc kiếp giang hồ, liên tục uốn lượn đến khó hiểu, để lại những khúc quanh Thanh Đa, Thảo Điền, Thủ Thiêm, Tân Thuận. Có lẽ vì nặng tình với con đất cưu mang, đôi bờ ngoằn ngoèo ấy đã vẽ dài thêm không gian sông nước cho vùng hạ lưu. Nhờ thế mà Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh nay có được những bán đảo đẹp quý giá…

Trĩu nặng bờ tây:

Sự ban tặng của thiên nhiên là vậy, nhưng dường như con người chỉ mới nhận có một phần, phần còn lại bị lãng quên. Hơn 300 năm sau khi lập phố, Sài Gòn hầu như chỉ mới tận dụng một bên lưu vực khiêm tốn ở bờ tây để phát triển. Do lợi thế thuận tiện về giao thương, thời kỳ đầu thành phố bám chủ yếu ở đoạn sông giáp rạch Bến Nghé, và cũng chỉ có không gian Sài Gòn xưa này mới được qui hoạch rõ nét. (Chính vì thế mà đến nay người ta vẫn còn thói quen khi nói ra Sài Gòn hay đi Sài Gòn có nghĩa là ra khu cũ này). Việc phát triển tiếp theo đa phần là tự phát, là sự lấn dần vào bên trong, lấp luồng lạch, ao hồ, bàu đầm, rồi ăn sâu vào đồng ruộng. Vài chục năm trở lại đây, cơn lấn lấp ấy đã diễn ra nhanh đến chóng mặt. Nội tạng (hạ tầng thóat nước) tuy vẫn như của một đứa bé nhưng cái xác thành phố thì đã béo phì như anh khổng lồ! Nhiều chỗ ‘trời cho’ là để tiêu nước hay tích nước dần dần bị thu hẹp hay xoá sổ. Các thủy danh Bàu Cát, Miếu Nổi,… từ lâu đã thành địa danh, mang hồn ‘nước’ nhưng mãi mãi không còn nước. Có vùng sau năm ba năm quay lại người ta đã có thể giật mình vì không thể nào nhận ra dấu vết cũ. Chẳng hạn như Đồng Ông Cộ mới đó mới đây, chưa chắc mấy ai dân Sài Gòn mà còn nhớ. Ngoài những trục chính (chủ yếu ở quận 1, một ít ở quận 3 và 5), thành phố đã được ráp vào hay được cơi nới theo nhu cầu trước mắt hay đặc điểm từng thời kỳ. Rõ nhất là áp lực dồn về lánh cư từ thời chiến tranh (1954-1975), và tiếp theo là làn sóng tìm cơ hội kéo dài sau đó (thời kỳ 1975 đến nay). Cứ vậy, có thể nói Sài Gòn đã chịu gần nửa thế kỷ ‘tự phát’, hẽm hóc mọc ra nhiều nhưng lề đi bộ thì hẹp lại.

Không dám phê phán cha ông hay trách người đi trước, nhưng có lẽ không quá đáng để nhận ra sự phát triển tự nhiên như vậy chẳng khác cách ta vẽ tranh chuyền tay, mạnh ai nấy thêm thắt. Tác phẩm lập thể đó không khác các mảng ghép tùy hứng mà có người cho là chắp vá, băm vụn, hay xắc lát. Tình trạng này cũng làm cho việc quản lý về nhà đất trở nên phức tạp, vậy nên mãi đến đầu những năm 2000, có tới gần 80% nhà đất không có giấy tờ hợp lệ. Về địa thế, các không gian chức năng làm nhiêm vụ quân bình hay điều tiết tự nhiên hầu hết đã bị cô lập hay chia cắt: Hồ Kỳ Hòa nay bị tách khỏi Nhiêu Lộc, rạch Bàu Cát đã mất Bàu Cát, kênh Tân Hoá – Lò Gốm có vẻ như khó mà giữ Đầm Sen…

Song song với làn sóng san lấp, nếu quá trình nhựa hóa hay bê tông hóa có cải thiện ‘bộ mặt’ dân cư thì đồng thời điều đó cũng biến phần còn lại của phố xá trở thành tệ hơn. Nước không tự thấm cứ chảy quanh gây ngập úng, chỗ này nâng thì lại dồn nước sang chỗ khác. Vậy là thi đua nâng và nâng tới đâu chưa biết. Chống ngập bằng cách nâng có vẻ như chỉ là đùn đẩy ngập. Thành phố xây trên ruộng sâu đã khó thoát nước, hạ tầng mấy trăm năm lại cứ thế nối chằng nối chịt dài ra. Phần chìm này lại rất dễ bị xuề xoà, thông cảm… làm cho nhiều khu nay thành những cái vĩa chứa nước khổng lồ mỗi khi có mưa. Người dân thành phố nay cũng thường bị ám ảnh với cảnh trên kẹt xe, dưới kẹt nước. Sự chịu đựng “mưa đi ủng, nắng đeo khẩu trang” mà kéo dài và được xem là chuyện bình thường thì xót quá. Biện pháp mương nổi ở Đường 3-2 là giải pháp hay như một dấu hiệu bế tắc?

Hướng sang bờ Đông:

Trong khi bờ Tây trĩu nặng và quá tải, giới chức quản lý đô thị đang tính đến chuyện đi vào lòng đất hay di chuyển trên không, thì phía bờ Đông, sát nách Sài Gòn xưa, vẫn còn yên tĩnh với bìm bịp kêu con nước lên ròng… Vị trí cửa ngõ này từ lâu vốn bình lặng nay vẫn âm ỉ đợi chờ… Mong ước phát triển về bờ Đông là câu chuyện thú vị, cho phép ta liên tưởng đến nhiều trường hợp tương đồng.

Từ rất lâu, Đà Nẵng ôm ấp thắp sáng khu Bạch Đằng Đông (bán đảo Sơn Trà) nhưng giấc mơ đó chỉ trở thành hiện thực vài năm trở lại đây khi đã có cầu Sông Hàn. Nay qua khỏi cầu Sông Hàn, đại lộ Phạm Văn Đồng mở ra thật hoành tráng, xuyên mũi đón gió Sơn Trà tới biển. Nối vào cuối đại lộ này, nay mai là con đường dọc biển, một đoạn “di sản văn hoá thế giới” qua Non Nước, Điện Nam–Điện Ngọc và nối vào Hội An, Mỹ Sơn.

Ở Trung quốc, nhờ quyết tâm cao Thượng Hải có thêm Phố Đông trong vòng chỉ 10 năm. Theo gót là Quảng Châu với tham vọng phát triển một Phố Đông bên kia bờ Châu Giang. Chính phủ Trung quốc cũng đã thành công với chiến lược tập trung phát triển kinh tế tại các tỉnh phía Đông trước để tạo động lực (và thực lực), sau đó mới phát triển về phía tây. Trước mắt ít nhiều có sự hy sinh phía tây, nhưng điều đó là cần thiết và cho kết quả thuyết phục. Là bậc thầy của tư duy thực tế và hiệu quả, họ hiểu rõ việc dàn trải, duy ý chí sẽ là phí phạm và có khi trả giá đắt.

Ở ta, việc phát triển Sài Gòn về phía đông, qua Thủ Thiêm, đã được xác định và hoạch định rất sớm, hơn 10 năm là theo quy hoạch mới, thật ra, từ trước 1975 Sài Gòn đã có tầm nhìn sang hướng này. Thế mà cho tới gần đây, bán đảo tiềm năng cách trái tim Sài Gòn chỉ khoảng năm trăm mét này vẫn còn là một vùng quê! Đường đất, chân đất, cầu ao, cầu cá, ếch nhái kêu ọap ộp. Từ các cao ốc dọc bến Bạch Đằng, nếu có người thích thú nhìn cái “view” (quang cảnh) hoang sơ bên kia sông Sài Gòn, phía Thủ Thiêm, thì họ đâu rằng biết đó lại là sự chua chát không riêng đối với Thủ Thiêm… Chưa sang được bờ đông, bờ phía tây lại tiếp tục bị chất nặng, bị nêm chặt hay phình ra. Đến nỗi sau nhiều năm tham gia vào thị trường xây dựng tại Sài Gòn, có lần một Việt kiều Úc nửa đùa nửa bi quan nói rằng ”mình có cảm giác như Sài Gòn đang bị chìm xuống”.

Phát triển về phía bờ Đông chẳng phải chỉ có mục đích để đánh thức Thủ Thiêm, Thủ Đức, mà còn là để nối vào vùng kinh tế động lực, tạo khả năng mở ra một Sài Gòn xanh mới có đồi dốc đẹp (vùng Thủ Đức và Quận 9). Đồi dốc là thứ hiếm hoi đối với Sài Gòn hiện hữu. Chính đồi dốc và sông nước mới cho không gian ở tốt nhất. Thế nên tại Sài Gòn xưa dân Tây chọn những gò đất cao để ở, và nay “cộng đồng Tây” mới lại chủ yếu rủ nhau về Thảo Điền. Ngoài việc chia sẻ áp lực dân cư cho bờ tây, đô thị phía đông sẽ thu hút bớt giao dịch và lượng người rất lớn đi lại Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu hằng ngày vì họ không còn phải qua sông. Đồng thời nó cũng sẽ hút dòng người từ bờ tây sang. Ách tắc giao thông nhờ đó được hoá giải.

Vậy thì chừng nào bờ Đông sẽ đón phố về? Điều kiện số một là thêm cầu! Đơn giản quá nhưng bế tắc! Hơn 300 năm kể từ khi ông cha ta quần cư và lập phố ở đây, chỉ vỏn vẹn có hai chiếc cầu được bắc qua đọan sông này (không tính cầu Bình Lợi). Hai chiếc cầu ấy, Sài Gòn và Bình Triệu, đang ngày đêm oằn lưng chịu một lượng xe khủng khiếp. Cứ nơm nớp nghĩ tới điều không dám nghĩ: Sập! Có lẽ người dân thành phố và đồng bào cả nước có cùng cảm nhận và nỗi bức xúc như ông Nguyễn Minh Triết, Bí thư Thành ủy TP HCM: “Là địa phương đóng góp 30% GDP của cả nước nhưng từ 1975 đến nay chưa có một cây cầu mới nào bắc qua sông Sài gòn, so với 4 cái bắc qua sông Hồng ở Hà Nội” (TBKTSG – 5/12/2002). Ai đời không lâu trước đây, các “thị dân” bên Quận 2 còn gánh rau xuống “đò” để qua bán ở Chợ Cũ Hàm Nghi. Chỉ vài năm nay thôi mới có những chiếc phà đàng hoàng. Thật là oái ăm khi ta tính chuyện mở đường, xây cầu bắc qua sông Đồng Nai để phát triển sang Nhơn Trạch, Long Thành, hay xây hàng loạt cầu tại nhiều tuyến khác, mà Thủ Thiêm vẫn còn lẹt đẹt… phà.

Nhiều người cứ nghĩ rằng Thành phố không có khả năng… Nhưng không phải, chuyện khó hơn, kẹt Ba Son và Tân Cảng! Cảng chưa thể dời (dự trù 2020 dời xong 42 cảng), cầu không thể làm… Vậy là hàng loạt tồn tại và phát sinh sẽ tiếp tục gây nan giải cho Sài Gòn: Các bệnh viện, vừa chữa bệnh lại vừa thải ra ô nhiễm, cứ tiếp tục quanh quẩn ở nội thành; các siêu thị, trung tâm mua sắm, ăn uống, trường học (nhất là đại học), cơ quan, dịch vụ, cứ duy trì hay đua nhau mọc lên ở những nơi vốn đã quá đông người, tiếp tục kéo dân ngoại thành và các tỉnh vào. Anh này giữ chân anh kia. Kể cả dân nhập cư và người nghèo hay cơ nhỡ cũng đổ về đó bám quanh để kiếm sống. Sài Gòn buộc phải chịu đựng nên chất lượng sống sẽ khó cải thiện là điều chẳng lạ! Giải pháp xe điện ngầm hay đường sắt trên cao mà cứ túm tụm vào “một trung tâm” như hiện nay chưa chắc sẽ đạt được mục đích.

Về mặt danh nghĩa, Thành phố đã kết nạp Quận 2, Quận 9, và Thủ Đức bên bờ Đông vào ‘câu lạc bộ nội thành’ lâu rồi, nhưng thực chất ở những nơi đó vẫn còn đang đi lên với áo mão rất ngoại thành. Gần đây lãnh đạo Thành phố có đề cập tới hướng phát triển các đô thị vệ tinh, kể cả phối hợp với Bình Dương và Đồng Nai tại Dĩ An, Nhơn Trạch… là dấu hiệu đáng mừng.

Cùng với quyết tâm thực hiện trục Đông-Tây, tập trung đẩy mạnh tiến độ phát triển đô thị mới Thủ Thiêm, câu chuyện xây thêm cầu qua sông Sài Gòn đã được hâm nóng lại nhiều lần. Thành phố lại hướng hy vọng về phía bờ Đông… Hiện thực về một Phố Đông Sài Gòn luôn là nỗi mơ niềm ước của người dân hai bên bờ sông.

Huy Nam, 2002

 

Sài Gòn, Kinh tế TPHCM

Có nên áp đặt cơ cấu GDP đẹp cho SàiGòn TPHCM?   

Một ‘Trung tâm Dịch vụ’ biết tận dụng thời cơ

Có thể là do máy móc trong cách nghĩ, không ít người đã tỏ ra lo ngại, đôi khi khá gay gắt, trước sự sụt giảm tỷ trọng thành tố dịch vụ trong cơ cấu GDP của TPHCM vào thời đoạn trước sau 2000. Nội dung thường được bàn đến nằm trong một gói vấn đề gọi là ‘chuyển dịch cơ cấu kinh tế TPHCM’. Đây là vấn đề lớn và không đơn giản, cần được nhìn nhận theo một tiếp cận khách quan và bao quát.

Nếu chỉ quan sát diễn tiến GDP, đơn giản nhìn sự chuyển động của các thành tố trong đó (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), để mà sốt ruột thì e chưa sâu sát. Việc dựa vào đó để kiến giải hay tính chuyện to hơn (như lập kế họach, định hướng chiến lược) sẽ khó thu đạt kết quả mong đợi. Cụ thể, nếu chỉ nhìn tỷ trọng dịch vụ (trong GDP) sụt giảm để cho rằng một bối cảnh kinh tế như vậy là thụt lùi hay kém tích cực, rồi ta ‘ép’ tỷ trọng này tăng lên là cách nghĩ và làm chưa khách quan. Tại sao? Vì thực tế diễn biến có thể đã được điều chỉnh bởi các trào lượng kinh tế có tính thời cơ và quá trình thích ứng. Như vậy, kết quả nếu có ngược với kỳ vọng là chuyện bình thường, có khi lại tốt, theo lý lẽ của khái niệm dự báo (thay vì là ‘chỉ tiêu kế họach’).

Từ năm 2000 đến 2004, GDP TPHCM có mức tăng mỗi năm lần lượt là: 9 – 9,5 – 10,2 – 11,2 và 11,6. Tăng như vậy là tương đối. Nếu ta có thấy một vài địa phương khác có các con số em em như vậy hay ‘đẹp’ hơn thì cũng đừng vội trách đội nhà, vì xuất phát của họ thấp, giá trị tuyệt đối thấp nên so sánh tương đối dễ có chỉ số cao.

Về tỷ trọng dịch vụ trong GDP của TPHCM, nếu lấy mức 50,1% của năm 2004 so với mức 52,6% năm 2000, thì rõ là trong vòng năm năm mức này sụt mất 2,5%. Lùi xa hơn nữa, để so với mức 56,7% của năm 1993, thì sau mười hai năm tỷ trọng này giảm đến 6,6%. Sự sụt giảm xem ‘ghê’ vậy nhưng có lý do và không nên quá ngại. Lý do nào? Ta nhớ lại, sau năm 1993 là thời kỳ tốt đẹp của đầu tư nước ngòai. Thành quả gặt hái từ hằng lọat khu công nghiệp, cùng với lực lượng sản xuất trong nước được mở ra sau Luật Công Ty 1990, giúp lãnh vực sản xuất hàng hóa tăng mạnh. Tương tự từ năm 2000 là sự ra đời của Luật Doanh Nghiệp và Hiệp Định Thương Mại Việt Mỹ… TPHCM với một hạ tầng tiềm tàng và kinh nghiệm sản xuất có sẵn, ngành công nghiệp/xây dựng (CN-XD) ở đây do tận dụng được thời cơ (từ các sự kiện đó) đã tăng trưởng lấn lướt, đã đẩy tỷ trọng GDP dịch vụ xuống thấp hơn ‘so với kế họach’.

Cũng nên biết, các bách phân so sánh tương đối nếu có giảm, điều đó không nhất thiết là sự sụt giảm về tăng trưởng của ngành dịch vụ qua các năm dựa trên giá trị tuyệt đối. Hơn nữa, dịch vụ vẫn là tỷ trọng đứng đầu trong GDP của TPHCM kia mà! Vã lại, vào giai đọan công nghiệp hóa tăng tốc, tỷ trọng GDP công nghiệp nếu có lấn lướt GDP dịch vụ thì cũng chưa là điều đáng ngại, nhất là đối với một Sài Gòn năng động, xoay trở giỏi, là đầu mối sản xuất hàng hóa số một của đất nước…

Điều đáng nói, sự vận động thích nghi để ‘tận dụng thời cơ’ cũng đã diễn tiến tương tự trên phạm vi cả nước, cũng đã làm cho các ‘chỉ tiêu’ quốc gia trở nên lạc hậu… Theo kế họach 5 năm (2001-2005) thì tỷ trọng dịch vụ trong GDP (quốc gia) vào năm 2005 sẽ cao hơn tỷ trọng CN-XD khỏang 2% (dịch vụ 40-41%, CN-XD 38-39%). Tuy nhiên, mới hết 2004 kết quả đã trái ngược: tỷ trọng CN-XD đã cao hơn dịch vụ khỏang 4,45% (cụ thể dịch vụ #37,40% và CN-XD #41,85%). Thực tế là từ năm 1996 đến 2004, tỷ trọng dịch vụ trong GDP cả nước đã giảm liên tục (42,51 – 42,15 – 41,73 – 40,08 – 38,74 – 38,63 – 38,48 – 38,2 – 38,2%), đồng thời tỷ trọng CN-XD cũng tăng liên tục (29,73 – 32,08 –32,49 – 34,49 – 36,73 – 38,13 – 38,49 – 39,95 – 40,1%). Trong giai đọan khởi động để hội nhập theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, điều này là đáng mừng cho nền kinh tế, vì nó tạo động lực. Trung Quốc cũng vậy, năm 2001 lúc GDP đầu người của họ đạt 910 USD, tỷ trọng công nghiệp trong GDP nước này là #51,1%, dịch vụ #33,7%. Hay như Malaysia năm 2001, lúc GDP đầu người là 3700 USD thì GDP công nghiệp của họ là #49,1, dịch vụ #42,4. Tất cả là để minh chứng việc ta ‘ép’ tỷ trọng dịch vụ trong GDP phải cao lên bằng mọi giá có thể là cách làm sai lầm, ít ra là cho từng giai đọan phát triển.

TPHCM dù được xem là ‘trung tâm’ thì cũng không thể nằm ngòai quá trình trở mình của cả nước, chẳng phải mọi cái đều thuận lợi. Vai trò ‘hạ tầng dịch vụ’ của TPHCM cũng đã được san sẻ dần về các địa phương đầu mối khác. Nhiều dịch vụ xưa chỉ có tại TPHCM hay Hà Nội thì nay đã dãn ra. Quá trình chuyển dịch này vừa tự nhiên vừa có tính cạnh tranh. Gần đây, ngành dịch vụ du lịch nhiều tỉnh thành có thể cũng đã phát triển nhanh hơn TPHCM, điều này dễ hiểu vì TPHCM không có lợi thế về núi, biển hay đất cho resort… Nói vậy không là để xoa dịu hay bằng lòng, vì TPHCM vẫn sẽ là dư địa cho kinh tế dịch vụ… Mặt khác, nếu tỷ trọng GDP dịch vu chưa là vấn đề, thì ‘chất lượng’ các tỷ trọng (của GDP nói chung) đã là vấn đề. Và công tác họach định/triển khai (hiểu như R&D) của TPHCM còn là mối ưu tư khác.

Về công nghiệp, do đất không thỏai mái, sinh họat đắt đỏ, các vấn nạn về đô thị, môi trường, xã hội, sẽ làm cho các lãnh vực công nghiệp thâm dụng lao động, tận dụng công nghệ thiết bị cũ, dựa vào đất, của TPHCM mất dần lợi thế. Nhiều địa phương mới nổi đã và sẽ sắm vai tốt hơn trong nhiều ngành công nghiệp có công nghệ tầm tầm. Nỗ lực lấp đầy khu công nghiệp khắp nước sẽ kéo theo và thúc nhanh quá trình ‘nước về chỗ trũng’. Một trào lưu chuyển dịch lao động ngược (về các địa phương) dự đóan sẽ sớm diễn ra. Điều này làm cho TPHCM có thể gặp khó khăn về lao động, đặc biệt cho các ngành công nghiệp, lọai hãng xưởng mà ở đâu cũng làm được. Nếu công nghiệp TPHCM ‘đứng’ lại như khỏang năm năm qua, không được phát triển chọn lọc, chậm chuyển hướng theo tiếp cận kỹ thuật cao, công nghệ tiên phong, thì vai trò đầu tàu sẽ nhạt dần. Suy cho cùng thì lợi thế công nghiệp của TPHCM về lâu về dài sẽ tùy thuộc vào lọai hay cấp phẩm lao động gắn với những ngành đó. TPHCM cũng cần tính đến khả năng tạo giá trị sản xuất từ bên ngòai địa bàn bằng nhiều hình thức vận dụng linh họat… Động lực chủ như vậy cần được ‘trang bị’ từ đầu nguồn R&D chứ không thể chỉ ở khâu ‘sản phẩm’!

Về dịch vụ, tài chánh là lãnh vực được mong đợi nhiều. Mức đóng góp gần 4% GDP trong năm 2004 tuy khiêm tốn, nhưng nếu xét rộng hơn thì bách phân này có thể chưa là đại diện. Vì nếu ta thống kê được lượng đầu tư tài chánh không nhỏ vào các doanh nghiệp (không qua TTCK) và địa ốc (không qua ngân hàng) thì mức ấy sẽ lớn hơn. Ấy là do cách nhìn nhận hay tính tóan (ví dụ vốn chứng khóan ở ta chỉ tính trên các công ty niêm yết) nên các nguồn đầu tư như vậy có thể đã bị lọt sổ hay đưa nhầm qua thành tố khác. Không phủ nhận nỗ lực của các định chế tài chánh trong thời gian qua, thế nhưng nhiều tiềm năng tại ‘trung tâm’ này còn để ngõ: Chưa thức dậy hết các nguồn tích lũy (các quỹ sự nghiệp…), chưa triệt để hút vào vòng quay lượng tạm nhàn rỗi còn rất lớn (doanh nghiệp và trong dân), chưa tích cực tạo hàng và tập quán giải quyết vốn ngắn hạn để khơi thông thị trường tiền tệ… Nếu TTCK và thị trường tiền tệ còn đợi cơ chế, thì bản thân các định chế tài chánh và ngân hàng tại TPHCM vẫn có thể ngồi lại trong nhiều trường hợp: Làm chỗ dựa cho trái phiếu doanh nghiệp, ‘mạo hiểm’ vào dòng luân chuyển của các công cụ tiền tệ, làm thuê/trông hộ các họat động nghiệp vụ khác… Do không có hạ tầng giao dịch, nhiều ‘thân chủ’ nắm bạc tỷ cổ phiếu công ty có thể vẫn chưa biết đó là chứng khóan! Đây lại là họat động hợp pháp, rất tiềm năng, mà nếu ta làm tốt sẽ giúp kích mạnh đầu tư trực tiếp (chỗ này có thể có tranh luận thú vị). Do chưa khơi thông thị trường, không ít lúc thành tích có thể cũng đã lòng vòng. Ví dụ, qũy đầu tư hay bảo hiểm dùng tiền huy động được (của dân) để gởi tiết kiệm, ngân hàng lấy tiền đó ‘gởi’ vào trái phiếu đô thị… Thế là một nguồn tiền có thể được tính ba lần huy động!… Đấy là ta chỉ mới đề cập đến mảng tài chánh.

Dịch vụ thương mại, y tế, giáo dục, nghệ thuật, giải trí… còn rất tiềm tàng. Mệnh danh là cửa ngõ nhưng Sài Gòn lại chưa thực sự là điểm hẹn giao thương. Hoặc ít ra các hạ tầng giao thương (trung tâm hội nghị, triển lãm hội chợ, trung tâm đấu giá…) tầm quốc tế chưa được chú trọng. Đây chưa là ‘thiên đường’ mua sắm, chưa phải đất lành của y tế chuyên khoa, chưa hội tụ các vườn ươm trí tuệ, lò luyện tài năng, nguồn cung tinh lực, đất dụng võ cho văn hóa nghệ thuật đỉnh cao… Sài Gòn TPHCM được ví như ‘thung lũng nhân tài’, thế nhưng các đại học, viện nghiên cứu ở đây có ít sản phẩm để bán hay bán được. Những định chế này cũng chưa tích cực ‘làm tiền’ các ngành công nghiệp hay doanh nghiệp, quan hệ cung cầu chưa là bức xúc của cả đôi bên… Đây là lý do giải thích tại sao họat động chuyển giao công nghệ, bí quyết (kể cả du nhập) chưa có đất sống. Thêm nữa, nếu phần hồn dịch vụ Sài Gòn cần có một hình hài đô thị xứng hợp tải đi, thì việc ta chậm ‘bước’ qua Thủ Thiêm (cứ cái gì cũng ‘trung tâm’ Quận I) sẽ ít nhiều còn kiềm hãm ngành kinh tế này.

Về nguyên lý vận động kinh tế, một khi phần chất cơ cấu GDP (nói chung) đã được cải thiện tốt thì mặc nhiên tỷ trọng dịch vu trong GDP sẽ tăng cao. Sở trường kinh tế của Sài Gòn TPHCM nhờ đó cũng sẽ được xác lập. Hiệu ứng nhân quả này lại sẽ chỉ diễn ra và được duy trì bền vững khi định hướng thâm dụng kỹ năng và chất xám đã rõ ràng. Tiếp cận như vậy giúp cho cơ cấu kinh tế TPHCM chuyển dịch căn cơ hơn.

Quá trình trăn trở tìm thế đứng trong bối cảnh vận hội mới cũng có thể làm cho vai trò ‘trung tâm’ của Sài Gòn TPHCM trở nên linh họat: Một trung tâm thu hút sẽ đậm dần lên trên cái nền động lực. Ý nghĩa này cũng rất là… dịch vụ.

Huy Nam, CV kinh tế và TTCK TPHCM

(TB Kinh Tế Saigon 14-2-2005)

Tỷ trọng khu vực công nghiệp xây dựng 2005 trong GDP đạt xấp xỉ 41%, dịch vụ 38,5%.

 

Tản mạn bên tô cá diếc nấu rau răm

Tản mạn kinh tế bên tô cá diếc nấu rau răm…

1. Tour dừng chân thư giãn…

Tôi không bay thẳng về Sài Gòn theo hành trình đã đăng ký vì có ít việc phải chuyển qua “stop-over” Đà Nẵng. Hôm ấy là một ngày cuối thu Hà Nội, phi trường Nội Bài vừa được thay áo mới, duyên dáng hơn dưới bầu trời u ẩn ngoài xa… Trong câu chuyện làm quen tại sảnh đợi, một người khách đang cùng chờ bay cho tôi biết rằng anh cũng ghé Đà Nẵng, nhưng chỉ để nghỉ một ngày và muốn ăn lại tô cá diếc nấu rau răm… Sự chân tình có chút lãng mạn này cho tôi chút tò mò và cảm nhận thật gần với một điều gì đó khả thi… Chợt nghĩ, phải chăng đây sẽ là tour thư giãn giữa đường rất tuyệt cho nhiều quý khách, kết hợp trên các chuyến công tác Sài Gòn – Hà Nội? Dù hiện thực còn là một khoảng cách, tiền đề đơn giản này cho thấy đã có một nhu cầu tiềm tàng mà không đâu có điều kiện khai thác tốt hơn là Đà Nẵng…

Tại sao? Cắt bớt hay thêm một ngày vào chuyến Hà Nội Sài Gòn để dừng chân Đà Nẵng sẽ làm cho chuyến đi phong phú và thú vị hơn nhiều. Trong khi về căn bản, chi phí hầu như chỉ là phần chênh lệch giá vé máy bay, khoảng hơn 200.000đ. Những lần dừng chân giữa đường như vậy thường được dự liệu thời gian rất ngắn. Bên cạnh những lợi thế của một thành phố biển có nhiều đặc trưng, các chuyến bay đi và đến Đà Nẵng dày hơn, cho phép khách có sự chủ động về chương trình và thời gian. Lượng khách ghé ngang này có thể rất lớn, liên tục theo lịch bay, không có ngày cao điểm, và phổ biến họ sẽ ở lại ít hơn 24 giờ. Nhưng để thu hút và phát triển tiềm năng này, vẫn cần các nỗ lực xúc tiến, tạo nhu cầu, cải thiện các sản phẩm và môi trường dịch vụ hấp dẫn, ví dụ, về ẩm thực đặc trưng, hải sản, mua quà, tắm biển, thăm thú, tìm hiểu nhanh… Các “midway stop-off” hay “stop-relax-over” tour này một khi đã được quan tâm và khẳng định bằng thực tế, chắc chắn sẽ níu chân cả các doanh hữu ngoại quốc.

Lợi ích? Ngoài lượng tiền không nhỏ sẽ để lại địa phương, Đà Nẵng Quảng Nam còn nhận được sự sinh động luân chuyển qua những dòng người cứ đến rồi đi, lan tỏa nụ cười và dài những luyến lưu… Do thành phần khách chọn lọc, những chuyến dừng chân dù nhanh vẫn tạo thêm hiểu biết, sự giao hòa, gần gũi với địa phương. Đây lại thường là sự bắt đầu của ý tưởng làm ăn, là gợi mở của cơ hội. Và chẳng thể nói trước được những dự định đầu tư sẽ không thoát thai từ những cuộc dạo chơi ngẫu hứng này.

2. hướng nào cho phát triển?…

Một thời ở miền Trung đi đâu cũng nghe người ta nói đến chuyện phấn đấu để trở thành trung tâm. Trung tâm, do đó, như là một đẳng cấp cần đạt cho oai, chứ thực chất ra sao và để làm gì, thì không mấy ai rõ. Cũng vậy, nhiều tỉnh đua nhau mở hải cảng, khu công nghiệp, nhà máy bia… nhưng lại chưa bao giờ có nghiên cứu đồng bộ và căn cứ khả thi. Thế là sự hụt hẫng về thị trường, nhân sự và các yếu tố sản xuất khác cứ lần lượt xuất hiện như đã hẹn trước. Nay có nơi đã bắt đầu thấy mệt mỏi.

Nhiều tỉnh lập ra khu công nghiệp thật to chỉ đơn giản là để đợi khách vãng lai! Chưa bao giờ có lý giải tại sao cần khu công nghiệp tập trung, bao nhiêu khu thì vừa, hoặc nên là tập trung hay nên lập nhà máy phân tán? Việc học tập kinh nghiệm, nếu có, thường chỉ là các chuyến tham quan, học cách triển khai, nói chung chỉ mới đi tắt ở phần ngọn, chứ ít đi sâu vào những điều kiện có tính cơ duyên, những liều lượng khác nhau mà nơi này không thể so được với nơi khác…

Giống như vận nội công, hoạch định kinh tế cũng cần sự tập trung cao độ, một chuỗi cảm biến tinh tế, giữa khả năng tiên lượng, độ sâu hiểu biết về các thuộc tính, sự nhận dạng về tương quan, cái nhìn thực tế trong chọn lựa và xếp loại… Chưa cần kiến thức vận trù học, nhưng thay vì phải đặt ra nhiều câu hỏi “tại sao?”, các trường hợp sao chép máy móc, cao hứng, trọng thành tích, thường có sự may rủi rất cao. Chẳng hạn, Đồng Nai và Bình Dương phát triển khu công nghiệp tập trung thành công vang dội, nhưng Vũng Tàu, Long An, Tây Ninh, Bình Phước thì chưa! Điều này không khó lý giải.

Còn trung tâm, không thể tạo ra bằng nỗ lực khiên cưỡng hay duy ý chí được. Đó là một tổng hòa của nhiều điều kiện và yếu tố mà mỗi thời đại có thể có đại diện khác nhau. Nó phảng phất giữa các ý nghĩa về: đầu mối, văn hóa, tiện nghi (bao gồm tính đa dạng và đồng bộ), khả năng dung nạp, thỏa mãn cao và tập trung… Trung tâm là nơi được thừa nhận chứ không thể tự công bố. Đó là một “quí ông” tư cách đầy mình mà người khác trông cậy đươc. Đó là thứ vai trò, là sự phân công vừa có tính xã hội vừa có tính kinh tế, chứ không phải là cái ngôi đẳng cấp…

Nói vậy có ý là để cho các nhân tố có quan hệ (bao gồm con người) và thời đại bỏ phiếu để chọn trung tâm. Việc Đà Nẵng có được thừa nhận là trung tâm hay không thì hãy xem các hoạt động đầu mối và chủ lực của các ngành, nói chung, có châu về đó hay không? Không có điều kiện phân tích nhiều, nhưng sự đĩnh đạc và độ chín của Đà Nẵng có thể là câu trả lời. Nơi đây có đủ diều kiện để phát huy thế mạnh và tạo ra lợi thế mới cho mình và khu vực.

Thế mạnh đó là gì? Là nơi làm hạ tầng dịch vụ cho khu vực. Cần nghiên cứu một chiến lược phát triển dịch vụ tầm cao và phẩm chất cao, đồng bộ, có ưu tiên và nhắm vào các nhu cầu và tập quán làm ăn mới theo hướng hội nhập. Không thể kể chi tiết, nhưng ngoài các ngành giáo dục, y tế, thể thao, giải trí, du lịch, dịch vụ công nhanh và thoáng,… nhóm dịch vụ kinh tế tài chánh là rất quan trọng. Đó là các hoạt động ngân hàng, các qũy tài trợ, nghiên cứu tư vấn, chứng khoán, kiểm toán, bảo hiểm, đại diện thương mại… Nơi nào tập trung đồng bộ được các dịch vụ “đầu sỏ” này thì nơi đó xứng vai là trung tâm.

Tạo ra lợi thế gì? Một vùng đất lành, nơi làm ăn lý tưởng, thông thoáng nhất, ưu đãi nhất, nhân lực giỏi, rẻ và tử tế nhất… Chuyên nghiệp hoá các hoạt động công quyền thành hạ tầng phục vụ, khuyến khích kinh tế tư nhân, phát triển công ty cổ phần, đồng thời với việc đẩy mạnh cổ phần hóa để thu hút vốn trong dân và khắp thiên hạ. Cần nghiên cứu hoạt động đầu tư tài chánh, tranh thủ nguồn vốn quan trọng này bằng các dự án tốt. Đây là hoạt động bao gồm công cụ trái phiếu đô thị và công trình. Không nên quá trông vào đối tượng nước ngoài và tập trung quá đáng vào việc phát triển các khu công nghiệp. Với khoảng 700.000 dân, đất hẹp, lợi thế so sánh trong ngắn hạn có phần kém thuận lợi so với một số nơi về thu hút đầu tư sản xuất tập trung, chỉ cần 3 khu như hiện nay mà đến năm 2010 trám đầy được là tốt rồi. Nên dành công sức để làm bật lên các tiềm năng dịch vụ có lợi thế.

Tình trạng đầu tư trùng lặp và dàn trải có vẻ đã là sự bức xúc mang tầm quốc gia! Sau cuộc họp hồi trung tuần tháng 12-2001 giữa Bộ Công Nghiệp với 10 tỉnh miền Trung, sự thật đó không còn bị né tránh.

3. thổi hồn vào đất…

Đầu tháng Giêng-2002, lãnh đạo tỉnh Quảng Nam có cuộc tiếp xúc với các giới kinh doanh, đầu tư, và báo chí tại Sài gòn, để giới thiệu tiềm năng làm ăn tại tỉnh nhà. Buổi gặp đã để lại ấn tượng tốt về môi trường đầu tư vào Quảng Nam, với những cơ chế thông thoáng, những ưu đãi, hỗ trợ hấp dẫn đến độ làm cho nhiều cử tọa phải ngạc nhiên… Nhiều người vỡ lẽ rằng, lâu nay cứ tưởng với thời tiết mưa bão, con người và đất đai thưa vắng, trầm lặng, thì miền Trung làm sao có lợi thế, nào ngờ… Nào ngờ ở Sài Gòn ra làm ăn tại Quảng Nam Đà Nẵng có thể đi lại trong ngày như với Vũng Tàu! Nhưng rất tiếc, điều này chỉ có một số người tham dự các buổi gặp gỡ (thường là mỗi năm một lần) như vậy mới biết. Đại đa số vẫn cứ nặng với nếp suy nghĩ cũ. Còn đó sự kém thuyết phục và có thể cả bế tắc!

Tại sao? Là vì có sự hạn chế về thông tin và xúc tiến. Trong một bài phân tích, viết cho báo Đà Nẵng cách đây 3 năm, về đề nghị thành lập trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư tại Đà Nẵng, tôi có đưa ra ý niệm “hữu xạ không thể tự nhiên hương”. Thời đại bùng nổ thông tin và cạnh tranh, hằng ngày người ta bị nhồi nhét đủ thứ, ngay trước mắt và đầy cả tai… Như vậy, dù có ưu việt bao nhiêu mà chỉ khiêm tốn nằm tại chỗ để tỏa hương thì cũng chẳng mấy ai biết đến, chưa nói có thể trở thành mai một. Kỹ năng thông tin và hoạt động xúc tiến, do đó, sẽ có tính quyết định. Phải tìm cách đưa “xạ” tới tận mũi thiên hạ thì họ mới cảm nhận được “hương”. Đây là hạn chế chung của rất nhiều địa phương, từ đó dễ rơi vào vòng lẩn quẩn…

Không chú trọng thông tin, hoặc không có cách nói thuyết phục, có thể phải chịu thiệt. Vâng, như câu chuyện sau đây. Có một thức uống chưa được thị trường đón nhận do tiếp thị không hiệu quả. Nhà sản xuất đến gõ cửa nhà tư vấn để cậy một lời khuyên. Khi hỏi thăm về cách tiếp thị, kỹ thuật, thành phần, công thức… đến phần nước gốc gặp chi tiết: “nước được lấy từ nguồn ngầm sâu dưới lòng đất hơn 500mét, tại vùng…”, nhà tư vấn bảo sao ta không làm bật lên đặc trưng này? Nhà sản xuất thật thà nói, các sản phẩm cùng loại cũng dùng nguồn nước lấy ở độ sâu như vậy… Tuy nhiên, ông ta cho rằng vì chưa ai nói lên điều này nên nó còn nguyên giá trị, và lợi thế trước tiên sẽ thuộc về ai biết làm bật điều đó ra. Ông đề nghị thân chủ của mình thực hiện một chiến dịch quảng cáo với nội dung trên, có gia vị thêm vào cái hồn của vùng đất… Khẳng định của nhà tư vấn được thực hiện thành công. Câu chuyện có giá trị tham khảo này biết đâu sẽ hữu ích.

Thổi hồn vào đất, một khái niệm kinh tế mang triết lý lãng mạn nhưng tinh tế, việc nghiệm ra và vận dụng tốt có thể đem lại hoặc bổ sung hiệu quả bất ngờ!

(Báo Đà Nẵng Xuân Nhâm Ngọ–2002; Báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật 26-5-2002)

 

Vũng Tàu, Cảm nhận Vũng Tàu

Cảm nhận Vũng Tàu…

Manly, nằm kề cận Sydney, là thành phố biển đẹp nổi tiếng ở bang New South Wales. Một người bạn Úc của tôi có nhà trên lưng chừng đồi ở đó. Thế mà khi qua Việt Nam, Vũng Tàu đã quyến rũ ông… Gần đây tại Sài Gòn, trong những câu chuyện về tương lai, không ít lần lại được nghe những lời ca ngợi, với các dự định rất lãng mạn của nhiều thân hữu đang tìm hiện thực tại Mũi Đón Gió này. Dù không phải là dân Vũng Tàu, tôi cũng cảm thấy vui sướng…

Vào những năm ‘60, lúc tôi còn nhỏ, Vũng Tàu dường như chưa toát lên được cái hồn của mình. Với tôi, nơi đây còn khá đơn sơ, chỉ là qua cầu Cỏ May, đi hết “tam Thắng” tới Thắng Tam, tắm biển, rồi…về. Xa hơn, những đồi cát trồng dương ở bãi sau thời đó còn hoang vắng, là nơi giúp thử thách mây nhóc “ấu” hướng đạo sinh, mà nhiều kỳ nghỉ hè chúng tôi đã đến đây cắm trại qua đêm. Những kỷ niệm dã ngoại ấy có rất ít chất thơ, như để trui rèn chúng tôi thì hơn. Tôi còn nhớ cảm giác hồi hộp tranh đua với các trò chơi lớn, hay chạy hụt hơi với vũ khúc leo đồi… mà có đứa trong bọn từng bị gãy chân! Tuy vậy, hồn nhiên trở về Sài Gòn, chúng tôi đứa nào cũng mang “Vũng Tàu” theo trong ba lô, và chỉ tạm biệt xứ biển này khi lớp cát trong áo quần đã chịu nằm yên đâu đó…!

Đến những năm 80, Vũng Tàu thừa hưởng thêm một tài sản hồi môn đồ sộ: dầu khí. Tiềm năng ngành công nghiệp vàng đen này có ảnh hưởng lấn át đến mức, một thời Vũng Tàu gần như chỉ được biết đến là thành phố của biển dầu! Rất may, cơn mê giàu có ấy chưa làm mất đi vẻ thướt tha của những bờ cát dài, chưa nguôi duyên nợ trời sinh ra là để làm vương vấn gót ngàn phương. Điều đó như cái nghiệp mà bao đời con đất này đã được gởi gắm và còn phải cưu mang. Sự vươn vai lấy lại tư thế ấy diễn ra vào khoảng năm 1990, sau hội chợ Hochimex, đồng thời với việc mở đại lộ Thùy Vân. Những năm kế tiếp, với sự bùng nổ đầu tư nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh và vùng trọng điểm phía Nam, Vũng Tàu mặc nhiên được phân công làm buồng phổi chăm lo nghỉ dưỡng cho cả vùng. Sự khám phá từ những cảm hứng và cảm nhận của cả khách lẫn chủ lần này, với một số nỗ lực tập trung, đã tái khẳng định vị thế nghỉ mát tuyệt vời của xứ biển nhiệt đới tắm được quanh năm này. Và khi con đường dọc biển thênh thang, uốn lượn quanh co như trải thảm từ Bãi Sau nối đến Bãi Dâu, thì tình anh em Núi Lớn-Núi Nhỏ như được giao hòa, tự tin và bền chí hướng ra khơi xa để đón gió hay đón ai về…

Quần thể các bãi tắm và khu nghỉ dưỡng từ đó được liên hoàn trong một không gian rộng hơn nhưng chặt hơn. Bố cục thành phố bắt đầu gây ấn tượng, thấp thoáng nét hoành tráng với núi ghềnh và vực biển đan xen trên cao dưới thấp. Những đường phố, đồi dương, nước bích ngọc và lá thanh xuân, dịu xuống dưới ánh nắng chan hoà, cho khách thưởng ngoạn những gam màu nguyên sinh. Nhờ không gian tiếp biển tăng, khả năng giải nhiệt cho thành phố cũng tăng lên đáng kể. Mai này khi đường Trần Phú ôm Núi Lớn, đánh vòng Bến Sao Mai về lại Bến Đình… hoàn tất, Vũng Tàu sẽ còn rộng ra hơn nhiều so với hiện nay.

Sự hài hòa về cảnh quan kiến trúc tôn giáo tại Vũng Tàu cũng là nét đặc biệt độc đáo, có khả năng thu hút tín hữu thập phương. Ơ đầu mũi Nghinh Phong là Thánh George, bên kia Bến Đình là Thích Ca Phật Đài. Hướng ra Bãi Dâu có cả lòng từ bi của Phật Quan Am và vòng tay bác ái của Mẹ Maria. Chùa và nhà thờ điểm hài hoà nhiều nơi. Đó đây như đều có sự che chở, chăm sóc tinh thần cho khách… Cảm giác an bình quả có sức thuyết phục không kém những điều kiện khác. Bởi vậy mà từ rất sớm, người Pháp đã đưa vào đây hồn thánh với cái tên “Cap Saint Jacques”, mà dân Sài Gòn một thời gọi đây là “Cấp” (đi Vũng Tàu lúc đó thường được gọi là “đi Cấp”.

Về tương quan kinh tế, trong khi khoảng cách phát triển công nghiệp giữa Vũng Tàu và các địa phương khác trong vùng (ngoài dầu khí) hoàn toàn có thể lý giải được, thì việc chưa nhận dạng đầy đủ về thế mạnh du lịch, kém tập trung phát triển lãnh vực này, là điều cần trăn trở. Bên cạnh các nỗ lực đã thành hình như một số khách sạn, bãi tắm, và ít nhiều táo bạo với trường đua chó… thì khu Paradise có thể làm cho người ta thấy tiếc. Sự hạn chế về khâu tạo ra sản phẩm và hoạt động tiếp thị còn đáng nói hơn. Được xem là thành phố du lịch tiềm năng, với cảnh quan, môi trường, vị trí lý tưởng, trước ngưỡng hiện đại và đầy sức sống như vậy, lẽ đáng, Vũng Tàu đã phải chú trọng việc thuyết phục khách đến nghỉ dưỡng dài ngày. Việc khai thác tắm biển đơn điệu dễ làm cho Vũng Tàu bị mang tiếng là nơi nắng nóng và tiếp tục thưa vắng. Người ta chỉ tới đây khi trời nóng quá, quanh quẩn ở bãi biển, lại nóng, nên tranh thủ “nhúng nước” cho hết ngày. Lên xe đã mệt đừ, lại giam mình cả trăm cây số đem cái cháy rát về nhà… Cho nên hễ nghĩ đến Vũng Tàu là người ta nhớ đến cái nóng. Nhiều người có thể đã tới lui nơi này suốt đời nhưng vẫn chưa biết Vũng Tàu là gì! Hoạt động dịch vụ vì thế mất cân đối, quá tải mà nghèo nàn… Lại có thể bị cạnh tranh, vuột mất cơ hội trong tương lai gần, khi Duyên Hải, Bình Tuy… đã thể hiện được mình. Nhưng Phan Thiết mới đáng gờm, nơi đây đang có những loại hình phục vụ rất chuyên nghiệp, hấp dẫn và đầy tham vọng.

Thậm chí Vũng Tàu cần có kế hoạch khôi phục hoặc tạo ra những thứ riêng cho mình. Thủ đắc một doi đất (cap) kỳ vĩ, ôm trong lòng nhiều núi đồi rộng lớn, bao quanh là biển trời với nhiều bờ vực cheo leo, vùng đất này đã có đầy và sẽ còn tiếp tục sản sinh ra truyền thuyết … Nếu tập hợp được và hệ thống lại những truyền thuyết đó sẽ làm cho du khách chết mê chết mệt, chưa nói hoạt động lễ hội. Làm sao để khách tứ phương có ao ước sẽ tới đây ở một tuần hoặc cả tháng để khám phá và xài tiền. Đó sẽ là vấn đề. Ta hãy tin rằng, họ đang chờ đợi muốn biết những chi tiết như, ai là người khai mở đất này, ai đặt tên và câu chuyện về Cap Saint Jacques ra sao, ai là người đầu tiên dựng tượng thánh ở Mũi Nghinh Phong, tên Vũng Tàu có từ lúc nào, Phước Tuy lúc nào, Bà Rịa là ai? …

Cần thổi hồn vào đất. Vâng, rất cần khuyến khích thật nhiều nhạc và thơ cho Vũng Tàu, cũng vậy, là các công trình và tác phẩm nghệ thuật. Cả ngành mỹ thuật lưu niệm cũng cần có tư chất và hướng đi. Vùng đất nào giàu những thứ này thì càng thêm thu hút, và văn hóa càng được nâng lên. Cảnh chiều Hồ Tây, mặt nước Hồ Gươm, sông Hương núi Ngự, hay biển Nha Trang,… tất cả như hoàn thiện, thu hút hơn là nhờ nhạc và thơ … Nhạc tạo sự bồi hồi, cho “dịch vị” hòa nhập, sự bâng khuâng thấm sâu và gợi nhớ. Cũng nên cổ xúy một phong cách hay văn hóa mến khách cho Vũng Tàu. Tôi đã vào vài quán ăn uống, cả quán rượu. Cách tiếp đãi vui vẻ ở các nơi đó gây được ấn tượng đẹp, lịch thiệp, nên khách sẽ nhớ lâu và bảo nhau tìm đến. Ngược lại, hầu như nhiều người cảm thấy thất vọng với cung cách phục vụ tại một khu liên hợp bãi tắm lớn khác nằm sát biển Thùy Vân. Cũng là cách tạo dáng phố, những con đường dọc theo các triền đồi, đường từ phố băng đồi ra biển, nên giữ các dốc lượn tự nhiên (không nên bào bằng), gợi cảm giác mềm mại và lãng mạn hơn. Ở nội phố, nếu có thêm vài trục đường liên hoàn và tươm tất như Trần Hưng Đạo thì cảm giác sầm uất của khu “down-town” (khu dạo phố) sẽ tăng lên. Điều này rất cần đối với khách ở qua đêm hoặc dài ngày.

Vũng Tàu hầu như cũng chưa có những “hương vị” riêng mặc dù đây là xứ biển. Ẩm thực, lãnh vực thực dụng nhưng tinh tế này cho hiệu quả đôi khi không ngờ. Một số món ăn là kết quả chuẩn bị và kết hợp nguyên liệu đặc chủng công phu. Nhưng nhiều món có thể chỉ là sự cải biên gia vị khéo léo hoặc thay đổi một ít chất liệu thôi, rồi đặt tên cho nó, thế là trở thành đặc sản. Chẳng hạn, cao lầu Hội An là thứ công phu, còn bánh bèo bì Lái Thiêu thì chỉ là sự cải biên nhưng cũng nổi tiếng nhờ ngon và có tên riêng. Dù không phải là xứ của cây trái, Bà Rịa Vũng Tàu vẫn đủ điều kiện (nhưng có thể chưa được chú trọng) cho một số cây trái nhiệt đới ngon. Đặc biệt, nhãn và mãng cầu ta của đất này xứng đáng thuộc loại siêu sao với chất lượng và hương vị tuyệt vời, ít đâu sánh bằng, nhưng rất tiếc còn ít ai biết đến, do người hay do ta? Trong khi đó, thỉnh thoảng du khách lại bị nhầm đến vừa tức vừa cười nếu lỡ mua loại “đặc sản táo ổi” do những người bán rong giới thiệu là loại trồng trên núi Vũng Tàu!

Tất cả như còn chờ mong nhận được những góc nhìn tâm huyết, những tư duy lãng mạn nhưng rất tập trung … Để mai đây, thành phố biển tươi đẹp và mến khách này sẽ rộn rã hơn tiếng cười trong nắng gió quanh năm, sẽ đón khách bảy ngày trong tuần, chứ không phải chỉ hai ngày như hiện nay! Và sẽ thú vị biết bao, khi du khách rời Vũng Tàu, họ không quên mua về một góc Mũi Nghinh Phong, hay vài giọt dầu của vùng biển này,… những kỷ vật rất riêng hy vọng sẽ là hiện thực từ cung đàn ý tưởng, để khoe với bạn hay đặt nơi đẹp nhất trong nhà…

(Báo Vũng Tàu Xuân Nhâm Ngọ 2002; Báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật)

 

Một BRVT không dầu khí

Một Bà Rịa Vũng Tàu… không dầu khí

Là địa phương đi đầu về hoạt động dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam, vài thập niên trở lại đây nhiều người (nhất là giới trẻ “8X”) thường chỉ biết đến Bà Rịa Vũng Tàu với (hay qua) dầu khí. Điều này một phần là do kể từ đầu những năm 1980, khi loại ‘vàng đen’ này bắt đầu được khai thác, không ít người đã từng (vội) nghĩ sẽ chẳng còn chỗ cho một Vũng Tàu phát triển du lịch hay dịch vụ ‘theo ý mình’. Phải chăng đã có một thời Vũng Tàu hơi lưỡng lự để bị chậm một bước tiến trên con đường có sẵn? Rất có thể…

Theo hiệu ứng hào quang, sự nổi lên và trở thành quá nổi tiếng của dầu khí đã lặng lẽ lấn át (đến mức bỏ quên hay làm lu mờ) các thế mạnh truyền thống và tiềm lực khác của Bà Rịa Vũng Tàu (BRVT). Thật may, sự háo hức ban đầu như vậy đã qua nhanh. Vì nhìn chung mà nói, cho đến nay Vũng Tàu vẫn là địa phương có thế mạnh để sắm vai thu hút khách ra vào. Ai đến xứ này cũng đều còn cảm nhận được sự nhẹ nhàng của biển trời. Đây như sự trở lại của Vũng Tàu sau một chuyến ngao du đến ‘thành phố của biển dầu’ (*). Vậy là Vũng Tàu vẫn Vũng Tàu. Cuốn hút và đầy cảm hứng, với nhiều ẩn số phát triển… không dầu khí. Dầu khí thật ra chỉ là thứ ở xa tít ngoài khơi.

Nếu tiềm năng là những gì nằm tại chỗ, hay ẩn sâu đâu đó, thì thế mạnh có thể không nhất thiết như vậy. Thế mạnh của Vũng Tàu là một bối cảnh liên lập, là yếu tố địa lợi ‘nhất cự ly’ với những anh hàng xóm (vùng kinh kế trọng điểm) đầy sức sống, có tình nghĩa qua lại lâu đời… Thế cho nên, ở Sài Gòn khi so sánh các tầm xa chừng một trăm cây số, thông thường người ta có cách nói giặm ‘bằng đây đi Vũng Tàu’. Cả với tầm hai trăm cây số thì dân Sài Gòn cũng cứ quen là ‘gấp đôi đi Vũng Tàu’. Vậy đấy, Vũng Tàu từ lâu đã gắn kết tự nhiên với người Sài Gòn, ngấm sâu vào cuộc sống họ và chỉ chờ có dịp là bật ra…

Thế nhưng, trong vài năm trở lại đây dân Sài Gòn cũng đã bắt đầu xích gần lại với Phan Thiết hơn. Ngày nay khi nghe ai nói ‘đi Phan Thiết’ thì người ta thường có cái thoáng nghĩ đó là đi nghỉ dưỡng. Cái thoáng nghĩ này có thể cho ta những cảm nhận thú vị – và giá trị – về các hiện thực kinh tế khởi đầu bằng những ý tưởng bay bổng kiểu ‘tình cờ mà tính toán’. Tư tưởng này xuất hiện nhiều trong ngành du lịch, mà nghỉ dưỡng là một trường hợp tiêu biểu.

Công nghệ nghỉ dưỡng ở ta thuôc lãnh vực đầu tư đón lên, có nghĩa nó thiên về cơ hội của tương lai, một ý niệm khác với cách làm ăn chỉ dựa vào cơ hội của hiện tại. Điều này do vậy cần đến những cái đầu vừa có tầm vừa có tố chất lãng mạn thì mới chắp cánh được. Nếu thêm yếu tố cơ duyên và khả năng ‘biết mạo hiểm’ (tức dám nghĩ dám làm – enterprising) thì đường dẫn đến hiện thực sẽ khả thi và ngắn hơn. Gọi là cơ duyên nghe xa vời, nhưng đôi khi đây chỉ là cái do ta tạo ra, và (quan trọng hơn) là cách ta biết nắm bắt từ đó. Resort ở Phan Thiết chẳng hạn.

Không lâu trước đây, ngoài đặc sản nước mắm, Phan Thiết mới chỉ được biết đến với loại hình du lịch dã ngoại và tắm biển. Ít ai đến Phan Thiết để mà ‘dưỡng’ quá một đêm… Thế nhưng, sau sự kiện những đoàn người kéo về ngủ qua đêm trên sườn đồi dọc Mũi Né để ngắm nhật thực toàn phần vào năm 1995, Phan Thiết đã như được đánh thức và biết tận dụng cơ hội này để ‘thức dậy’ và nổi lên như một nơi thu hút khách nghỉ dưỡng trội nhất khu vực. Sự gặp nhau giữa cảm nhận xa xăm và nhu cầu sống thực vậy là đã kết tụ nên sản phẩm.

Những khu nghỉ mát xanh mượt cỏ cây, thoáng rộng biển trời, nằm dọc con đường dẫn ra Mũi Né khá ấn tượng. Dù rất thích nơi này, nhưng không hiểu sao cứ mỗi lần đi qua và nghỉ lại ở đây là mỗi lần tôi liên tưởng đến vùng Long Hải – Phước Hải của BRVT. Tôi cũng thường nghĩ bụng, người đi làm resort dù giỏi, dù có điều kiện và sẵn tiền đến đâu thì họ cũng không thể thiếu tố chất lãng mạn kinh tế. Có thể nào đây như một gợi ý để ta có cái nhìn lại với BRVT?…

Về điều kiện tự nhiên, BRVT có các khu cảnh quan biển núi và bãi tắm rất đẹp. Thiên nhiên quả rất hào phóng khi ban tặng cho vùng đất này một bờ biển dài, hầu hết chỗ nào cũng tắm được và tắm được quanh năm. Dọc theo hành lang tiếp biển từ Long Hải – Phước Hải đến Bình Châu – Hồ Cốc… là không gian sinh thái tuyệt vời, nhiều chỗ như đợi sẵn để những khu nghỉ đưỡng mọc lên. Điều kiện giao thông được xem là khá thuận tiện, cả trên bộ lẫn dưới nước. Ngoài sự đi lại dễ dàng, chỉ cách TPHCM trên dưới hai giờ xe chạy, độ lớn của đô thị Vũng Tàu và thời tiết ôn hoà là những thứ mà nhiều địa phương du lịch khác không dễ có. Thế nhưng không hiểu sao BRVT lại chưa bật lên được lợi thế của mình, chưa là địa chỉ nghỉ dưỡng nhiều ngày trong con mắt khách thập phương, hay hẹp hơn là khách ‘sộp’ từ Sài Gòn… Nếu đây như sự khiếm dụng thì TPHCM suýt nữa (nếu không được các nhà khoa học can ngăn) đã chi tiền tỉ để vận tải cát về đổ biển Cần Giờ lập bãi tắm riêng… Thật đáng tiếc và có phần khó hiểu!

Ta biết rằng lợi thế không đương nhiên là lợi ích, không là thứ có lời giải chung. Lợi thế là một chuyện, biết phát huy lợi thế là chuyện khác khó hơn. Nhưng khó hơn nữa là khả năng nhận biết được tiềm năng ngay khi chưa có lợi thế, và khó nhất có lẽ là biết tạo ra lợi thế từ các tiềm năng đó. Có thể nói gì về ý này với BRVT? Về kinh tế, lãnh vực mà BRVT có thể chủ động (thúc đẩy phát triển) thực sự có lẽ không phải là dầu khí, vì ngành này hầu như được định đoạt từ Trung ương. Về công nghiệp và khu công nghiệp, ngoài một số lãnh vực có lợi thế từ nguồn khí đốt và hải sản, BRVT chưa hoặc sẽ khó bật lên về mặt này. Vã lại, phát triển công nghiệp theo hướng thâm dụng lao động là điều nên cân nhắc, vì không thể bỏ qua kinh nghiệm về hậu quả xuống cấp hạ tầng xã hội tạo ra bởi nguồn lao động vãng lai từ nơi khác đến. Tỉnh cũng không có thế mạnh nông nghiệp… Lãnh vực mà BRVT có tiềm năng và thế mạnh vượt trội nhất có lẽ là dịch vụ nói chung và du lịch.nói riêng.

Về du lịch, BRVT có một vị trí địa lý thuộc loại đẹp và thật lý tưởng. Vùng Long Đất và Xuyên Mộc pha trộn giữa đồng bằng và núi rừng, với hành lang triền dốc men theo ven biển từ Long Hải, Phước Hải ra tới Hồ Tràm, Hồ Cốc, Bình Châu là các ẩn số phát triển hấp dẫn. Đây là khu hiếm hoi nằm trong tầm 100 cây số cách Sài Gòn, hội tụ nhiều điều kiện thiên nhiên thuận lợi để phát triển các resort, trung tâm hội nghị, các bệnh viện chuyên khoa hay dưỡng đường, các tổ hợp du lịch, thư giãn, vui chơi, thể thao, dã ngoại… Tuy nhiên , nếu vùng này chỉ mới tiềm năng thì ngay tại Vũng Tàu là không gian du lịch đã hiện thực.

Gần đây khách đến Vũng Tàu đã cảm thấy thích thú hơn, có thể ‘bát phố’ vào buổi tối, đặc biệt là ở trục Trần Hưng Đạo và các mảng phố cài răng lược nối trục này với đường Quang Trung dọc biển. So với Nha trang, Đà Nẵng hay Hải Phòng, cụm phố biển ở đây có sắc thái khác và tạo được nét rất riêng. Sao lại riêng? Vì từ các gam ấm của hồn phố bên trong ra cái mênh mông của biển trời chỉ là ít bước. Ý này đã được tôi nêu lại trong một bài phân tích về đô thị với Đà Nẵng và đã được nhiều người chia sẻ. Đây chẳng qua là sự phát hiện tình cờ vào một dịp tôi sống hai ngày với ‘nội phố’ Vũng Tàu do không thuê được phòng dọc biển. Thật ra, đối với nhiều gia đình nếu đi nghỉ độ ba ngày hai đêm thì ở trong phố có lẽ thích hơn. Tuy nhiên, nếu mai kia Vũng Tàu có một khu mua sắm phong phú và hiện đại hơn, có thêm các hoạt động giải trí thư giãn cho khách bậc trung trở lên, thêm điểm thăm thú mới – một khu trưng bày giới thiệu công nghiệp dầu khí chẳng hạn, thì khách nghỉ dưỡng sẽ còn thích hơn vì có chỗ để họ tới lui. Vậy ra, một kế hoạch ‘giữ khách dài ngày’ vẫn còn đợi …Vũng Tàu

Ngành dịch vụ nói chung là lãnh vực rất tiềm năng của Vũng Tàu, nhưng cần có cách khơi gợi thì mới rõ đâu là lợi thế. Tuy không tiện bàn sâu, điều có thể nói ngay là nếu không cụ thể sẽ ưu tiên làm gì, khuyến khích phát triển dịch vụ nào, mà cứ ‘tài chánh, ngân hàng, cảng biển’ chung chung, thì lãnh vực đáng lẽ sẽ hái ra bạc này cũng rất dễ bị mai một, hoặc sẽ mãi còn là ’tiềm năng’. Xét trong vùng trọng điểm, Vũng Tàu có điều kiện phát triển kinh tế dịch vụ tốt chỉ sau có TP HCM. Đặc biệt là dịch vụ du lịch MICE.

Bối cảnh ‘du lịch kết hợp làm việc’, gọi bằng từ ghép viết tắt trong tiếng Anh là MICE, gần đây được nhắc đến nhiều tại Việt Nam, nhưng thật ra chưa có nơi nào triển khai thực hiện thực thụ. Điều kiện và khả năng có lẽ là hai nội dung quan trọng của vấn đề. Trong khi đó tại nhiều địa phương, thông qua các hội thảo chuyên đề về du lịch, MICE vẫn không ngớt được giới thiệu như một sản phẩm du lịch hiện đại, một chủ trương đi trước đón đầu rất thời thượng… Nghe thì hấp dẫn, nhưng không ít người trong cuộc đã từng nói thật rằng chính họ cũng chưa hiểu tường tận MICE cần điều kiện thế nào, sản phẩm MICE cụ thể là gì? Thậm chí, có diễn giả khi lên bục thì thao thao bất tuyệt cổ xúy “mô hình MICE” nhưng khi xuống bục và được hỏi MICE có nghĩa là gì thì …chịu. Do chưa được nghiên cứu nghiêm túc, MICE dường như đang còn ở trên ‘mây’ (trên bầu trời), chứ chưa thực sự có bến đậu.

Có thể nói MICE vừa rất kén ‘đất’ vừa rất chọn ‘chủ’. Tại Việt Nam, những nơi có khả năng tổ chức loại hình du lịch này không phải nhiều. Đáng nói, trong số những địa phương ‘rất ít’ như vậy có lẽ Vũng Tàu là ứng viên sáng giá. Vũng Tàu tỏ ra nổi trội hơn so với những nơi khác ở nhiều mặt, nếu không muốn nói đây là địa phương có ưu thế thuộc loại tốt nhất của Việt Nam (hoặc ít ra là của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam) để phát triển loại hình du lịch kết hợp với việc tổ chức “gặp gỡ giao lưu – động viên khen thưởng – hội thảo / hội nghị – xúc tiến sự kiện” này. (MICE được viết ghép bởi Meetings Incentives Conventions Events). Tất nhiên sẽ còn nhiều thứ cần bổ sung, nhưng nếu BRVT có ngay một chủ trương tập trung thì chẳng bao lâu nơi đây sẽ tấp nập. Chỉ riêng lãnh vực ‘hội nghị’ một khi đã thật sự thu hút, thì lượng người ‘chọn lọc’ đổ về sẽ làm bật lên nhiều cơ hội khác.

Dù M.I.C.E là hoạt động kéo về, đây đồng thời cũng sẽ là cánh cửa mở hướng ra. Tư duy kinh tế hướng ra đặt kế hoạch làm ăn và giành lợi thế từ bên ngoài một địa giới hành chánh. (Singapore giàu lên nhờ vậy!). Sự toan tính chiến lược này tận dụng lợi thế toàn khu vực để phát triển chứ không tách riêng từng địa giới hành chính để ‘lập kế hoạch’ theo cái nhìn cổ điển…

Huy Nam
Chuyên viên kinh tế và TTCK, TPHCM

(Báo Xuân VDT Vũng Tàu Bính Tuất 2006 – TBKTSG 9-2-2006)

(*) Lời một bài hát khá phổ biến vào những năm 1980

 

Trở lại một BRVT không dầu khí

Trở lại “Một Bà Rịa Vũng Tàu không dầu khí”

Năm 2005, theo đề nghị của Báo Bà Rịa Vũng Tàu và sau khi nghiên cứu các tài liệu về định hướng phát triển của tỉnh nhà, tôi đã có bài phân tích về “Một Bà Rịa Vũng Tàu không dầu khí”. Bài này đăng trên báo xuân của tỉnh, được tờ Kinh tế Sài Gòn và Tuổi Trẻ đăng lại. Sau đó Báo Đầu tư đã đề nghị tôi “edit” lần nữa để in trong đặc san Festival Biển Vũng Tàu 2006.

Một Bà Rịa Vũng Tàu không dầu khí là một trong hai bài chia sẻ của tôi với Vũng Tàu. Bài kia có tên “Cảm nhận Vũng Tàu” được viết hồi năm 2001. Cả hai được đón nhận khá nồng nhiệt, có cả những phản hồi cảm động, đã được in lại trong các sách của tôi. Gọi là chia sẻ vì tôi viết thật lòng, vì tôi ngưỡng mộ Vũng Tàu….

Với tôi, Bà Rịa Vũng Tàu có sự thu hút kỳ lạ, không chỉ bây giờ mà ngay từ lúc nhỏ. Thủ đắc một địa hình núi biển uốn lượn tuyệt đẹp, Bà Rịa Vũng Tàu là điểm cuối hướng đông của chữ “S” đất nước, trước khi nó ngoặt về tây. Nhờ vậy mà trong 100km bờ biển ở đây có đến 72km là bãi tắm, là vùng bờ có bãi cát dài cuối cùng ở phương nam tắm được quanh năm. Với vị trí như vậy, từ bao đời nay Vũng Tàu được biết đến là nơi nghỉ dưỡng lý tưởng cho cả vùng.

Tiếc là, ngày nay phần đông khách đến đây chỉ đơn giản “nhúng” nước rồi về. Đa số lại mới chỉ quen với bãi trước hoặc sau. Ít người biết rằng ngay tại thành phố Vũng Tàu đã có đến hai mươi bãi tắm. Xa hơn là một loạt bãi tắm sạch đẹp kéo dài từ Long Hải, Phước Hải đến tận ranh Bình Thuận. Khách cũng có thể đã bỏ sót nhiều địa danh quen thuộc khác như Long Sơn, Gò Găng, Long Hải, Phước Hải, Lộc An, Hồ Tràm, Bình Châu, Hồ Cốc… Chưa từng biết Nhà Lớn và đạo Ông Trần là gì, chưa no nê với hải sản vừa ngon vừa rẻ ở Làng Bè hay Bến Đá… Sự vội vàng của khách (hay lỗi của chủ nhà?) cũng đã làm cho những cái tên nhẹ nhàng xưa kia như Tầm Dương, Thùy Dương, Phương Thảo, Hương Phong rơi vào quên lãng, để nay ai cũng ngắn gọn đến khô cộc với ‘trước, sau, dâu, dứa’.. Đó là chưa nói đến một Côn Đảo nguyên sinh đang ở xa bờ.

Có lẽ cũng vì đến đi vội quá như vậy, nhiều người đã không kịp thưởng thức các thức ngon món lạ của vùng này, lại còn bị trả đắt. Các trường hợp “chơi xấu và hại đội nhà” (tranh thủ chặt đẹp) làm khách phật lòng là đáng trách. Nhưng thiết nghĩ, ta cũng không nên vì ít biểu hiện đánh lẻ kia đề mà lớn chuyện, vội kết luận và dị ứng cho cả Vũng Tàu. Điều này lại có thể không công bình, có thể oan uổng cho một Bà Rịa Vũng Tàu phong phú, còn lắm nơi chốn nhẹ nhàng rất đáng để đến và khám phá.

Vũng Tàu là nơi có con đường dọc biển đẹp thuộc loại nhất nước ôm gần trọn thành phố..Đường phố ở đây hầu hết thoáng đãng, sạch sẽ, và là một trong rất ít nơi còn phần lề thoải mái cho khách bộ hành. Không chỉ ở nội phố mà nói chung cả Bà Rịa Vũng Tàu có một hệ thống đường sá ấn tượng và thuận tiện. Nhờ vậy mà Bà Rịa và Long Hải như được kéo gần lại với Vũng Tàu hơn, tạo thành không gian liên hoàn trên ba đỉnh một tam giác có bố cục hợp lý, chặt nhưng sinh động. Ngày nay, ở Vũng Tàu có thể đi ăn tối tại Bà Rịa hay Long Hải, và ngược lại. Bà Rịa Vũng Tàu cũng trở nên gần với người láng giềng Phan Thiết hơn, nhờ cung đường mới nối Long Hải với Hàm Thuận Nam.

Tôi có lưu lại Bà Rịa Vũng Tàu vào những ngày cận kề sự kiện “Kỷ niệm 20 năm thành lập Tỉnh”. Phố xá lớn nhỏ trước đây đã sạch đẹp, nay lại càng tươm tất hơn. Nếu các bãi tắm mà được chăm chút như trên đường phố thì tuyệt, nhất là dọc theo bờ kè bãi Thùy Dương, tức bãi Sau, còn rất ít dương (rừng dương đối diện không còn) nay rất cần được trồng bù. Việc này theo tôi nên được quan tâm hơn, vì nói đến Vũng Tàu là nói đến biển, và ai đến đây cũng mong có chút càm khoái từ biển. Xanh và sạch là yêu cầu số một mà.

Về kinh tế, cho dù hiện nay ngành công nghiệp (bao gồm dầu khí) có tỷ trọng đóng góp cao cho địa phương, nhưng xét về lợi thế địa dư, Bà Rịa Vũng Tàu có thế mạnh vượt trội ở các lãnh vực kinh tế thiên về dịch vụ. Đặc biệt là về du lịch, cảng biển, và các dịch vụ cộng sinh của hai ngành này (như nghỉ dưỡng, giải trí, tôn giáo, sức khỏe, giáo dục, m.i.c.e*, logistics, tài chánh, thông quan). Với công nghiệp, nên dành đất cho hoạt động hỗ trợ, chế biến từ dầu khí và năng lượng. Chỉ riêng công nghiệp hạ nguồn dầu khí thôi sẽ cần nhiều nguồn lực. Tuy nhiên, hoạt động công nghiệp nói chung cần được khu trú tại một số địa bàn nhất định. Đồng thời, ý định ‘công nghiệp hóa’ theo hướng tăng cường công nghiệp nặng, đặc biệt với ngành thép và các ngành thâm dụng nhân công, rất cần được cân nhắc, do các ngành này vùa không giúp cho mục tiêu phát triển bền vững của địa phương, vừa rất dễ xâm hại đến bản sắc của mũi đón gió Vũng Tàu.

Cần đặt lên bàn cân.giữa phát triển kinh tế với gìn giữ bản sắc và các giá trị thiên nhiên trong hoạch định chiến lược. Nhìn chung, hoạt động dịch vụ có đặc điểm giảm thiểu tình trạng làm tăng lao động đơn giản. Riêng du lịch còn có thêm khả năng bảo tồn thiên nhiên cao. Theo tôi, dư địa cho phát triển du lịch và các ngành công ngiệp không khói khác tại Bà Rịa Vũng Tàu còn rất lớn. Các dự án quy mô thời gian qua tuy chưa hiện thực nhưng đã nói lên sự quan tâm đặc biệt của các nhà đầu tư lớn vào lãnh vực này. Bà Rịa Vũng Tàu cũng cần có tầm nhìn dài hạn cho giai đoạn sau khi có phi trường quốc tế Long Thành và các hành lang chiến lược khác mở ra trên bộ.

Tôi đi lại xứ biển này khá thường nên cảm nhận được một Bà Rịa Vũng Tàu đang vươn lên lớn mạnh và giàu đẹp. Nhưng tiếc, những ngày đầu tuần ở đây còn vắng vẻ quá. Nếu có thể tận dụng công suất thừa của các cơ sở kinh doanh dịch vụ vào ba, bốn ngày đầu tuần để quảng bá một kế hoạch chào mời “happy days” (những ngày được giảm giá sâu) quy mô cả tỉnh, hay riêng cho Vũng Tàu, thì tôi tin người đến sẽ đông và đều hơn. Vũng Tàu cũng cần xây dựng một nếp văn hóa mến khách và kinh doanh lịch thiệp, từ người bán dạo, các hàng quán cho đến những cơ sở lớn; cần kiên quyết khử trừ nạn đua xe. Để tạo được môi trường ‘mềm’ như vậy, thiết nghĩ chính quyền địa phương có thể sẽ cần đến cả biện pháp dân vận lẫn cứng rắn như Hội An và Đà Nẵng đã làm.

Gọi ‘một Bà Rịa Vũng Tàu không dầu khí’ là để xác quyết lại những toan tính hướng về các cơ hội và tiềm lực trong tầm tay của Bà Rịa Vũng Tàu. Định hướng kinh tế từ đó sẽ hoàn toàn thuộc tầm hạn của Bà Rịa Vũng Tàu, chứ không như dầu khí. Định hướng này cũng sẽ cho sự khác biệt cần thiết: Lợi thế so sánh về kinh tế và xã hội từ vùng đất Tam Thắng của ông Dinh, ông Lộc, ông Huyền** nhờ đó sẽ được bật lên.

* m.i.c.e: meetings, incentives, conventions, events: gặp gỡ, tưởng thưởng, tổ chức hội nghị và sự kiện

** Xem http://www.baria-vungtau.gov.vn/tourist/lichsu.htm

Chu Lai…

Chu Lai…

Đó là một không gian kinh tế riêng biệt, một hợp tuyển các điều kiện đầu tư rất ưu đãi, là cửa ngõ đi trước trong giao thương hội nhập, mở ra cơ hội cho những lãnh vực hoạt động mà cơ chế chung hiện nay chưa có điều kiện triển khai… Có thể hiểu khái quát về sự hứa hẹn tầm vĩ mô dành cho Khu kinh tế mở Chu Lai như vậy.

Trước 1975, khi còn là một “base” của Mỹ (căn cứ quân sự), Chu Lai là một “tọa độ ảnh hưởng” không riêng Việt Nam mà là cả khu vực. Sân bay ở đây tiếp nhận được loại máy bay B52 khổng lồ mà thời ấy người ta gọi hình tượng là pháo đài bay. Chính vì vậy mà từ những năm 1960, cùng với vịnh Cam Ranh, hằng ngày cả Đông Nam Á đã quen với Chu Lai qua các bản tin dự báo thời tiết của truyền hình Mỹ phát trong vùng. Thế nhưng đó như một dấu tích không vui thời chiến tranh… Sau ngày đất nước thống nhất, có lẽ vì “tai tiếng” vậy nên Chu Lai mặc nhiên bị lạc hậu. Thời buổi yên bình ít ai nhắc đến cái tên đó cũng là điều dễ hiểu. Chu Lai chỉ còn trong trí nhớ của người lớn, phảng phất nắng gió và đạn bom…

Đến năm 1999, với khát khao được làm điều gì đó tốt đẹp hơn, khi được chọn là khu kinh tế mở đầu tiên của Việt Nam Chu Lai như bừng tươi trở lại. Tuy vậy, mãi đến tháng 6-2003, gần 4 năm sau, mới có một Quy Chế tầm quốc gia cho không gian kinh tế đặc biệt này. Dù chậm, sự hấp dẫn của Chu Lai vẫn còn đó. Giai đoạn khởi động tốc độ ngay sau khi có quy chế ấy vẫn đầy khí thế. Quảng Nam đang tập trung nỗ lực để Chu Lai sớm đi vào hiện thực.

Mặc dù đã có những tranh luận, một vị trí địa lý như Chu Lai và lợi thế của nó trong bối cảnh phát triển quốc gia và khu vực miền Trung là không thể phủ nhận. Đây là vùng có cự ly chia đều cho hai đầu đất nước. Cách Hà Nội 860km và TP Hồ Chí Minh 865km, Chu Lai là cái gạch nối giao hòa, là điểm hội ngộ mới cho hành lang Đông Tây. Chu Lai có sẵn sân bay với điều kiện dễ phát triển thành tầm cở quốc tế, có sẵn cảng biển nước sâu và nằm trên trục đường bộ và đường sắt bắc nam. Nhưng điều đáng quan tâm có lẽ chính là “cái không lợi thế” của vùng này. Nếu tính trên diện rộng của dải đất cát trải dài dọc biển, từ Dung Quất ra tới bờ nam sông Thu Bồn, vùng đất xương nhiều hơn thịt này có lẽ khó có cách phát triển nào hiệu quả hơn là… mở. Đây là thực tế lịch sử chứ không thuần là lý lẽ. Từ xa xưa, hay ít ra đã 400 năm qua kể từ khi có Hội An, hầu hết vùng này là hoang hóa, hoậc chỉ có thể khai thác lỗ vốn (bị lỗ công, như phân tích của tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, bí thư kiêm chủ tịch HĐND Quảng Nam, về hiệu quả khai thác nông nghiệp tại địa phương). Về mặt địa lý, vùng đất ôm sát biển này sở dĩ cần được mở còn là vì theo phong thổ, đó là phần mặt tiền xán lạn mà thiên nhiên đã ban tặng cho Quảng Nam: Lưng tựa núi, mặt hướng biển. Nhưng Chu Lai sẽ mở thế nào?

Vùng quy hoạch cho khu kinh tế mở Chu Lai có diện tích tự nhiên rộng khoảng 610 kilômét vuông. Ta có thể tạm hình dung nó nằm dọc biển, khoảng giữa Hội An và Dung Quất, có chiều dài khoảng hơn 50 km và chiều ngang khoảng hơn 10 km. Giai đoạn một sẽ được triển khai ngay trên một phần ba diện tích vừa kể, tận dụng các yếu tố về hạ tầng có sẵn để thu hút sự châu về. Gọi là khu, nhưng Chu Lai sẽ là một quần thể khá toàn diện, bao gồm các hoạt động kinh tế, cư trú, dân cư, các dịch vụ phục vụ cao, dịch vụ sinh hoạt… Tóm lại, hầu như chỉ thiếu có nông nghiệp, tại đây sẽ hình thành một cộng đồng chọn lọc với các cư dân kinh tế trong một đô thị công nghiệp và thương mại. Chưa rõ thực tế về sinh sống cụ thể sẽ thế nào, nhưng điều chắc chắn đó sẽ là một cộng đồng có chất lượng sống và làm việc cao. Về sản xuất và chế biến, Chu Lai có các khu công nghiệp, khu chế xuất. Thương mại xuất nhập khẩu với cảng biển, sân bay, kho hàng, hội chợ triển lãm, siêu thị. Hoạt động tài chính với các định chế tài chánh, ngân hàng, bảo hiểm… Các dịch vụ cao cấp và dân sinh khác như viễn thông, giáo dục, y tế, cư trú, du lịch, văn hóa thể thao, vui chơi giải trí…

Mảng quan trọng rất cần tập trung là các điều kiện hạ tầng và phát triển đô thị. Nếu không phát triển được mảng đô thị hoặc chỉ dừng lại ở dạng “cư xá” thì hiện thực có thể sẽ kém thuyết phục, thiếu nét độc đáo của một khu kinh tế mở. Vì nếu không tạo được sự khác biệt của một cộng đồng kinh tế cao, thì Chu Lai có thể chỉ là hoặc trở thành một khu công nghiệp lớn. Nhu vậy “cuộc chơi” sẽ kém sinh động và không hấp dẫn như mong đợi. Có lẽ do đã dự liệu điều này, trong Quy chế của Chính Phủ (Quy chế ban hành bởi Quyết định 108/QĐ-TTg ngày 5-6-2003) đã chi tiết hóa rất nhiều hoạt động và còn để mở cho nhiều hoạt động khác. Riêng lãnh vực phát triển đô thị và hoạt động bất động sản đã được nêu tại nhiều điều khoản. Theo quy hoạch thì chỉ riêng khu đô thị mới trong giai đoạn một sẽ có diện tích là 1550 ha.

Điều mọi người muốn biết thêm có lẽ xoay quanh câu hỏi một Chu Lai mở sẽ có gì vượt trội? Tuy vẫn còn là những ẩn số hấp dẫn… nhưng theo các thông tin đã được công bố thì có thể hình dung đó là những loại hình hoặc cơ chế hoạt động mà chưa đâu trên đất nước này có. Ví dụ cảng tự do Kỳ Hà, khu phi thuế quan (hay mậu dịch tự do). Thu hút không kém sẽ là khu du lịch và giải trí đặc biệt, được hình thành tại bán đảo Tam Hải đối mặt với cảng Kỳ Hà.

Gọi là mở nhưng thật ra Chu Lai có một toàn cảnh từ thoáng đến mở. Nếu ta hình dung không gian kinh tế này có ba vòng tròn lồng vào nhau từ lớn đến nhỏ, và bờ biển là cát tuyến chung cắt qua ba vòng tròn đó thì, vòng lớn nhất là không gian cả khu kinh tế mở, vòng thứ hai là khu phi thuế quan và vòng nhỏ nhất là khu cảng biển tự do. Chỉ có khu cảng tự do và khu phi thuế quan là mở hoàn toàn. Phần còn lại là thoáng mở, đây là phần mềm bao quanh, là khu bản lề làm chỗ tựa cho khoảng sân mở. Nhưng đừng tưởng nó kém hấp dẫn, vì tất cả các điều kiện ưu đãi vượt trội sẽ được áp dụng ngay cho khu này. Ví dụ, mức khởi điểm thuế thu nhập cá nhân gấp 3 lần mức bình thường, khu du lịch giải trí đặc biệt sẽ nằm ở đây…

Tại cảng tự do và khu phi thuế quan, tàu thuyền, hàng hóa và người vào ra thoải mái. Không gian phi thuế này được áp dụng cả cho các loại hàng có thuế suất tiêu thụ đặc biệt. Một ngày kia sẽ có những hàng hoá được đóng gói tại đây và có thể tiếp thị với lời chú giải (legend) Chu Lai duty not paid. Không chỉ có vậy, theo mong đợi đây sẽ là trạm dừng chân giao thương, điểm hội tụ Đông Tây hay Bắc Nam, là một hải ngoại thông quan của Việt Nam đón chào bè bạn thế giới về làm ăn. Nhưng ai sẽ là “khách” của Chu Lai? Đó là giới hàng hải, hoạt động trung chuyển, cung ứng nguyên nhiên liệu, các nhà chế xuất, hệ thống phân phối toàn cầu, các nhà đầu tư lắm của nhiều tiền… cần gợi ra nhiều để mời gọi họ. Và họ kỳ vọng gì ở Chu Lai? Câu trả lời có thể phải cần đến sự tìm hiểu các ‘bậc đàn anh’ ở Hồng Kông, Singapore, Thẩm Quyến… xem họ đã làm gì? Không nên chỉ là cái quá riêng của mình!

Dải đất cát nắng gió ven biển miền Trung từ lâu là vùng khắc nghiệt với cuộc sống phổ biến nông, ngư, thủ công nghiệp. Nay hy vọng đó không còn là ‘số phận’ với tầm nhìn chiến lược về kinh tế công nghiệp, dịch vụ, du lịch, với các toan tính về cơ hội triển khai phát triển phù hợp, bắt kịp trào lưu kinh tế thế giới.

Với Chu Lai, một dự án tầm quốc gia có tham vọng nhìn ra thế giới thì yêu cầu sẽ lớn hơn, cần nguồn lực tinh hơn và sự tập trung cao hơn trong triển khai. Với một kế hoạch phát triển đã được chính phủ ‘lên khuôn’ (QĐ 108/QĐ-TTg, 5-6-2003) và nhiều thông tin toan tính ấn tượng được người trong kẻ ngoài khấp khởi đón nhận, hy vọng đó không là buổi tiệc chay ý tưởng với món triển vọng chỉ để hồ hởi…

Huy Nam, 2003